CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Giảng viên DTU

  • Duyệt theo:
1 Đặc điểm hình ảnh thoát vị đĩa đệm trên cộng hưởng từ và triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân chèn ép rễ thần kinh hông to / Nguyễn Văn Sang, Nguyễn Thế Tùng, Vi Văn Hiếu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 244 - 248 .- 610

Mô tả đặc điểm hình ảnh thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng trên cộng hưởng từ và triệu chứng lâm sàng ở bệnh nhân có hội chứng chèn ép rễ thần kinh hông to. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 102 bệnh nhân được khám có hội chứng chèn ép rễ thần kinh hông to và được chụp cộng hưởng từ cột sống thắt lưng tại Bệnh viện E từ tháng 01 năm 2025 đến tháng 06 năm 2025. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0. Kết quả: Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng hay gặp ở lứa tuổi 30-50, tuổi trung bình là 41,33 ± 15,692. Tỉ lệ nam/nữ = 1,2. Lâm sàng bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng <12 tuần, đau ở mức độ nhẹ - vừa với điểm VAS trung bình là 3,89 ± 1,534, có triệu chứng đau tại cột sống thắt lưng, nghiệm pháp Lasègue dương tính, đau dọc theo rễ L5 và S1. Trên cộng hưởng từ, đĩa đệm L4/5 và L5/S1 hay bị thoát vị nhất, đa số thoát vị thể trung tâm, gây hẹp ống sống và chèn ép rễ thần kinh độ 1. Kết luận: Triệu chứng lâm sàng thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng đa dạng. Cộng hưởng từ có vai trò rất quan trọng giúp chẩn đoán sớm, chính xác và định hướng điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.

2 Thực trạng cấp cứu ngoại viện bệnh nhân chấn thương sọ não tại một số Bệnh viện tại Hà Nội / Trần Thị Linh, Nguyễn Thành, Hoàng Bùi Hải // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số .- Tr. 236 - 241 .- 610

Mô tả thực trạng can thiệp cấp cứu ngoại viện và kết quả cấp cứu bệnh nhân chấn thương sọ não tại một số bệnh viện tại Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang; hồi cứu bệnh nhân ≥ 18 tuổi, được nhập viện từ 1/1/2025 đến 30/6/2025 tại 3 bệnh viện tại Hà Nội. Kết quả: Kết quả cho thấy nam giới chiếm 70,8%, độ tuổi trung bình 49,98 ± 18,73; nhóm tuổi lao động (18–60) chiếm đa số. Nguyên nhân chủ yếu là tai nạn giao thông (58%). Có 66,2% bệnh nhân được vận chuyển bằng xe cấp cứu và 60% được sơ cứu bởi nhân viên y tế, trong đó các kỹ thuật thường gặp nhất là cố định cột sống cổ và băng cầm máu. Các thủ thuật nâng cao về kiểm soát đường thở không được triển khai tại hiện trường. Tỷ lệ tử vong chung là 26,15%, trong đó tử vong do chấn thương chiếm 20%. Các yếu tố nguy cơ tử vong bao gồm tổn thương sọ não nặng (AIS ≥4), ISS ≥ 16, tụt huyết áp và hạ oxy máu ngoại viện. Kết luận: Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của cấp cứu ngoại viện trong cải thiện kết cục lâm sàng bệnh nhân chấn thương sọ não.

3 Nhận xét các đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ khớp thái dương hàm ở bệnh nhân rối loạn nội khớp có triệu chứng hạn chế há miệng / Trịnh Văn Duy, Đặng Triệu Hùng, Nguyễn Văn Long, Hoàng Thu Thuỷ, Hoàng Đình Âu // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 241 - 244 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ 8/2023 đến 7/2025 trên 116 khớp được chẩn đoán lâm sàng mắc hội chứng rối loạn nội khớp thái dương hàm (TDH) có triệu chứng hạn chế há miệng. Tất cả các bệnh nhân được khai thác triệu chứng hạn chế há miệng và đo độ há miệng tối đa, sau đó được chụp cộng hưởng từ (CHT) khớp TDH. Từ đó đưa ra nhận xét các đặc điểm hình ảnh trên phim CHT về hình dạng, vị trí đĩa khớp và tình trạng tổn thương lồi cầu ở nhóm bệnh nhân này. Rối loạn nội khớp có hạn chế há miệng hay gặp ở nữ giới với tỉ lệ nữ/nam là 1,97, độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 24,68 ± 12,1 tuổi và đa phần các bệnh nhân đều nằm trong nhóm tuổi lao động. Biến dạng đĩa khớp hay gặp nhất là dạng gập với 33 đĩa khớp chiếm 33,6%, di lệch đĩa khớp ra trước với góc đĩa khớp lồi cầu >30 độ chiếm đa số với 78,4% các trường hợp và các trường hợp này đa phần đều đã có tổn thương lồi cầu ở các mức độ khác nhau (62,9% các trường hợp).

4 Kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu / Nguyễn Hồng Hà, Bùi Đức Tín, Trần Xuân Thạch, Trần Thị Thanh Huyền, Tô Tuấn Linh, Nguyễn Đức Tiến // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 175 - 180 .- 610

Tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay là một dạng tổn thương thần kinh ngoại biên thường gặp, đặc biệt do chấn thương. Nếu không được điều trị đúng cách nó có thể gây ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và lao động của người bệnh. Bài báo này nhằm mục đích đánh giá kết quả điều trị tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp hồi cứu và tiến cứu trên các bệnh nhân có tổn thương thần kinh quay đoạn cánh tay do chấn thương, được điều trị từ 01/2020 đến 07/2025. Theo dõi các biến số tuổi, giới, nguyên nhân, phương pháp phẫu thuật, kết quả sau mổ. Sử dụng thang điểm BMRC để đánh giá hồi phục chức năng. Kết quả: Trong 60 bệnh nhân được nghiên cứu thời gian theo dõi tối thiểu là 6 tháng sau phẫu thuật và bệnh nhân theo dõi lâu nhất là 65 tháng. Tổn thương chủ yếu gặp ở nam giới (80%) trong độ tuổi lao động (18–60 tuổi: 80%), nguyên nhân phổ biến nhất là tai nạn giao thông (40%). Thời gian can thiệp trước 3 tháng mang lại kết quả tốt hơn. Tỷ lệ phục hồi vận động M3–M5 đạt 83,3%, cảm giác mức S3–S4 đạt 85%. Kết luận: Điều trị sớm và đúng kỹ thuật, đặc biệt là áp dụng kỹ thuật vi phẫu trong điều trị cho thấy sự hồi phục đáng kể cả về chức năng vận động và cảm giác ở những bệnh nhân tổn thương thần kinh quay.

5 Khảo sát khoảng cách từ ngành dài xương đe đến đế bàn đạp trên CT scan và đối chiếu trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp điều trị bệnh xốp xơ tai / Lê Quang, Bạch Võ Thiên Vân, Dương Thanh Hồng, Nguyễn Thanh Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 170 - 175 .- 610

Khảo sát khoảng cách từ ngành dài xương đe đến đế bàn đạp trên CT scan và đối chiếu trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp điều trị bệnh xốp xơ tai. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu trên 49 bệnh nhân được chẩn đoán xốp xơ tai và được chỉ định phẫu thuật thay thế xương bàn đạp bằng trụ dẫn nhân tạo tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM từ tháng 01/2025 đến tháng 08/2025. Kết quả: Tổng cộng 49 bệnh nhân được ghi nhận. Trên CT scan, khoảng cách từ xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp trên mặt phẳng ngang xương bàn đạp và mặt phẳng đứng ngang - xiên lần lượt là 4,06 ± 0,25 mm và 4,02 ± 0,26 mm; khoảng cách từ xương đe đo đến mặt trong đế bàn đạp ở hai mặt phẳng lần lượt là 4,60 ± 0,22 mm và 4,59 ± 0,21 mm. Tương quan Pearson giữa hai mặt phẳng trong mỗi cách đo đều rất cao, lần lượt là r1=0,924 và r2=0,863 (p<0,001). Trong phẫu thuật, khoảng cách đo được ở nhóm 1 (đo từ xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp) và nhóm 2 (đo từ xương đe đến mặt trong đế bàn đạp) lần lượt có trung vị là 4,25 mm [IQR, 4,00 – 4,25] và 4,50 mm [IQR, 4,25 – 4,50]. So với số đo trong phẫu thuật, chỉ mặt phẳng ngang xương bàn đạp ở nhóm 1 là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,17 >0,05). Kết luận: Khoảng cách đo từ ngành dài xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp trên mặt phẳng ngang xương bàn đạp có sự tương đồng cao với khoảng cách tương ứng đo trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp, do đó có khả năng hỗ trợ phẫu thuật viên trong việc dự đoán chiều dài trụ dẫn nhân tạo trước phẫu thuật.

6 Thang điểm Clif – C AD trong tiên lượng bệnh nhân xơ gan mất bù / Đỗ Thị Kiều Oanh, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Trường Sơn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 180 - 184 .- 610

Xơ gan là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở những người mắc bệnh gan mạn trên thế giới. Bên cạnh các thang điểm truyền thống như Child- Pugh, MELD, MELD-Na thì thang điểm CLIF-C AD có ý nghĩa nhất định trong tiên lượng bệnh nhân xơ gan ngắn hạn. Mục tiêu: Khảo sát giá trị thang điểm CLIF-C AD và Child-Pugh, MELD, MELD – Natri trong tiên lượng tử vong ở bệnh nhân xơ gan mất bù. Đối tương và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu dọc có theo dõi bệnh nhân, mô tả tiến cứu trên 116 bệnh nhân được chẩn đoán là xơ gan giai đoạn mất bù không có không có suy gan cấp trên nền mạn (ACLF) được điều trị tại Trung tâm Tiêu hóa Gan Mật bệnh viện Bạch Mai và khoa Nội tiêu hóa bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 7 năm 2024 đến tháng 4 năm 2025.Kết quả: Trong 116 bệnh nhân nghiên cứu, có 5 (chiếm 4,3%) bệnh nhân tử vong sau 28 ngày và 15 (chiếm 12,9%) bệnh nhân tử vong sau 90 ngày kể từ khi nhập viện.. Ngưỡng cut-off CLIF -C AD có khả năng phân tầng nguy cơ tử vong lần lượt là 55 trong 28 ngày và trong 90 ngày là 62. Thang điểm CLIF- C AD có giá trị tiên lượng bệnh nhân xơ gan sau 28 ngày với AUROC 0,852 (p = 0,008 < 0,05) và sau 90 ngày với AUROC 0,803 (p = 0,001<0,05) tương đương với các thang điểm MELD, MELD-Na. Do đó có thể áp dụng thang điểm này cùng với MELD, MELD-Na trong lâm sàng giúp nhận diện bệnh nhân cần chăm sóc tích cực ngay từ đầu.

7 Mối liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng với rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân viêm cơ tim cấp / Phạm Trần Linh, Vũ Quốc Oai // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 195 - 200 .- 610

Viêm cơ tim là bệnh lý với lâm sàng đa dạng, từ không triệu chứng đến các bệnh cảnh nguy kịch như suy tim cấp, rối loạn nhịp tim, thậm chí tử vong. Các rối loạn nhịp tim thường xuất hiện với nhiều mức độ. Đặc biệt trong giai đoạn cấp, các rối loạn nhịp ác tính là nguyên nhân tử vong ở hầu hết bệnh nhân. Mục tiêu: Tìm hiểu mối liên quan giữa triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng với rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân viêm cơ tim cấp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành trên 51 bệnh nhân viêm cơ tim cấp được điều trị tại Khoa Hồi Sức Tích Cực và Viện Tim mạch - Bệnh Viện Bạch Mai từ tháng 7/2018-7/2019. Các bệnh nhân được khám, làm xét nghiệm, ghi Holter điện tâm đồ hoặc theo dõi monitor 24-48h. Kết quả: Tuổi trung bình 36 ± 16 tuổi, nam giới chiếm 41,2%. Có 66,7% bệnh nhân xuất hiện rối loạn nhịp nguy hiểm và 39,2% bệnh nhân có từ 3 rối loạn nhịp trở lên. Khó thở, huyết áp, lượng nước tiểu, nồng độ Kali, nồng độ CK- MB, nồng độ Troponin T, nồng độ NT-proBNP, phân suất tống máu và các bệnh nhân phải hỗ trợ bằng ECMO là các yếu tố liên quan đến mức độ nguy hiểm và số lượng rối loạn nhịp. Trong đó lượng nước tiểu 24h, nồng độ CK-MB, nồng độ Troponin T, cần phải điều trị ECMO có liên quan độc lập. Kết luận: Bệnh nhân viêm cơ tim có tỷ lệ rối loạn nhịp cao và phức tạp. Các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng có mối liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện của các rối loạn nhịp này.

8 Mô hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em dưới 5 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Thái Bình / Phan Trọng Luân, Nguyễn Thị Diệu Thuý, Khúc Văn Lập // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 200 - 203 .- 610

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp luôn là vấn đề lớn trong bệnh lý Nhi khoa. Mục tiêu: Mô tả mô hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) ở trẻ em điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2024. Phương pháp: Nghiên cứu tiến mô tả cắt ngang. Chọn mẫu toàn bộ các bệnh nhân dưới 5 tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Thái Bình từ 01/2024 đến 12/2024. Kết quả: Bệnh lý NKHHCT rất đa dạng, cả đường hô hấp trên và hô hấp dưới. Tuổi nhập viện trung bình của trẻ NKHHCT là 15,04±13,98 tháng. Tỷ lệ trẻ trai/trẻ gái là 1,6/1. Viêm mũi họng cấp là bệnh lý đường hô hấp trên thường gặp nhất, chiếm 26,5%. Viêm phổi thường gặp nhất trong nhóm các bệnh lý đường hô hấp dưới, chiếm 73,4%. Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện chủ yếu vào mùa đông và mùa xuân. Kết luận: Bệnh NKHHCT chủ yếu gặp ở lứa tuổi nhỏ. Bệnh nhân nhập viện chủ yếu vào mùa đông xuân với NKHHCT đường hô hấp dưới.

9 Áp dụng chỉ số phân suất tống máu toàn bộ (GEF) đo bằng phương pháp hòa loãng nhiệt xuyên phổi trong điều trị bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn / Phạm Thị Quỳnh, Nguyễn Hữu Quân, Phạm Minh Tuấn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 203 - 206 .- 610

Tìm hiểu mối tương quan phân suất tống máu toàn bộ (GEF) với phân suất tống máu thất trái (EF) trong một số thời điểm ở nhóm bệnh nhân nghiên cứu. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 45 bệnh nhân ≥18 tuổi, chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn theo Sepsis-3 tại Trung tâm Cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai từ 8/2024 – 8/2025. GEF được đo bằng phương pháp hòa loãng nhiệt xuyên phổi, LVEF do bác sỹ tim mạch siêu âm ở một số thời điểm nghiên cứu. Các thông số huyết động, lactate, liều norepinephrine, điểm SOFA, APACHE II được ghi nhận. Phân tích tương quan bằng hệ số Spearman, giá trị chẩn đoán của GEF được đánh gía qua đường cong ROC. Kết quả: Tuổi ≥60 chiếm 60%; nam giới 64,4%. Nguồn nhiễm chủ yếu: hô hấp (68,9%). 77,7% có tác nhân gây bệnh xác định, chủ yếu Gram âm (A. baumannii 22,8%, E. coli và K. pneumoniae cùng 17,1%). Tỷ lệ tử vong 57,8%. Nhóm tử vong có lactate, SOFA, APACHEII cao hơn nhóm sống, p<0,05. Có 142 cặp đô GEF – LVEF, mối tương quan giữa GEF và LVEF chặt chẽ r= 0,696 (p<0,001). Giá trị cut-off của GEF trong dự đoán LVEF lần lượt: EF≥40% (14%, AUC 0,677), EF≥50% (18%, AUC 0,795), EF ≥ 60% (21%, AUC 0,835), với độ đặc hiệu 100% ở tất cả các ngưỡng. Kết luận: GEF có mối tương quan chặt chẽ với LVEF và có thể được sử dụng bổ sung hoặc thay thế LVEF trong những tình huống lâm sàng khó tiếp cận siêu âm tim.

10 Khảo sát sự liên quan giữa tỉ lệ nhiễm Blastocystis sp và các yếu tố cận lâm sàng ở người bệnh viêm đại tràng / Bùi Thị Hồng Châu, Lê Thị Xuân Thảo, Nguyễn Kim Hải, Võ Thanh Thanh, Đinh Thị Huyên, Nguyễn Trương Công Minh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 206 - 210 .- 610

Cơ chế gây bệnh của Blastocystis sp vẫn chưa rõ ràng. Một số nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của B.hominis có liên quan đến các triệu chứng lâm sàng (tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính, đau bụng, chán ăn, đầy hơi, buồn nôn, nôn) và giảm nồng độ hemoglobin (Hb), sắt huyết thanh. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá một cách tổng quan về tỉ lệ nhiễm Blastocystis sp, triệu chứng và các chỉ số công thức máu ở những người bệnh viêm đại tràng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang, khảo sát 128 người bệnh viêm đại tràng và 132 người thuộc nhóm bệnh lý khác, từ 18 tuổi trở lên, có chỉ định xét nghiệm soi tươi phân, tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh từ tháng 01/2024 đến tháng 10/2024. Kết quả: Không có sự khác biệt trong phân bố các đặc tính nhân khẩu học giữa nhóm viêm đại tràng và nhóm bệnh lý khác. Nam giới, nhóm trên 60 tuổi, và BMI thuộc ngưỡng bình thường là các đặc tính chiếm đa số ở hai nhóm. Tỉ lệ nhiễm Blastocystis ở nhóm viêm đại tràng là 14,1%. Nghiên cứu tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về chỉ số LYM% (p=0,02), MONO% (p=0,003), và RBC (p=0,04) giữa những người bệnh viêm đại tràng có hiện diện B.hominis so với nhóm không có. Kết luận: Nghiên cứu ghi nhận sự liên quan giữa Blastocystis sp và một số chỉ số huyết học cũng như triệu chứng đau bụng ở người bệnh viêm đại tràng, dù tỉ lệ nhiễm thấp hơn so với nhóm bệnh lý khác. Cần thêm các nghiên cứu chuyên sâu với phương pháp nhạy hơn và kiểm soát yếu tố gây nhiễu để làm rõ vai trò của Blastocystis trong bệnh sinh viêm đại tràng.