CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Tiểu thuyết

  • Duyệt theo:
1 Đặc điểm của phép so sánh tu từ trong các tác phẩm của Nguyên Hồng (tiểu thuyết “Bỉ vỏ” và hồi kí “Những ngày thơ ấu”) / Đỗ Mai Hương // .- 2025 .- Số 12(376) .- Tr. 205-212 .- 800

Khảo sát, nghiên cứu đặc điểm của phép so sánh trong các hai tác phẩm “Bỉ vỏ” và “Những ngày thơ ấu” của nhà văn Nguyên Hồng, chỉ ra được sự vận dung sáng tạo, linh hoạt mô hình so sánh ở các bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa, đó là những nét đặc sắc, riêng có trong phép so sánh tu từ của Nguyên Hồng.

2 Sự chuyển hóa ngôn ngữ đời thường trong diễn ngôn nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại / Đoàn Thị Huệ // .- 2026 .- Số 2(378) .- Tr. 126-145 .- 400

Tập trung tìm hiểu sự chuyển hóa của ngôn ngữ đời thường trong diễn ngôn nghệ thuật của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại như một biểu hiện quan trọng của tư duy tự sự mới. Quá trình chuyển hóa này góp phần làm sinh động hóa không gian lịch sử, rút ngắn khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, đồng thời thể hiện sự dịch chuyển trong quan niệm viết lịch sử bằng văn chương. Kết quả nghiên cứu chỉ ra vai trò của ngôn ngữ đời thường như một yếu tố quan trọng trong việc hình thành diễn ngôn nghệ thuật và cảm thức lịch sử của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại.

3 Chiến lược trần thuật trong tiểu thuyết Đỗ Bích Thúy: Sự phối hợp giữa người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật / Nguyễn Hồng Ánh, Phạm Thị Hà // .- 2025 .- Số 9(372) .- Tr. 163-171 .- 800

Nghiên cứu này tiếp cận ba tiểu thuyết tiêu biểu của Đỗ Bích Thúy (“Bóng của cây sồi”, “Chúa đất”, and “Lặng yên dưới vực sâu”) nhằm nhận diện cách thức tổ chức người kể chuyện và điểm nhìn, qua đó làm rõ phong cách tự sự cá nhân của nhà văn; tập trung mô tả đặc điểm của người kể chuyện giấu mặt cũng như sự luân chuyển linh hoạt giữa các kiểu điểm nhìn (bên ngoài, bên trong, toàn tri).

4 Ngôn ngữ kể trong tiểu thuyết “for whom the bell tolls” (chuông nguyện hồn ai) / Hán Thị Bích Ngọc // .- 2025 .- Số 1(363) .- Tr. 143-147 .- 400

Bài viết phân tích đặc điểm ngôn ngữ kể trong tiểu thuyết For Whom the Bell Tolls (Chuông nguyện hồn ai) của Ernest Hemingway, tập trung vào giọng kể của người trần thuật hàm ẩn bên ngoài câu chuyện. Sử dụng ngôi kể thứ ba, ngôn ngữ kể trong tác phẩm mang giọng điệu khách quan và trung lập, cho phép người đọc cảm nhận câu chuyện một cách tự nhiên, không bị chi phối bởi quan điểm chủ quan của người kể.

5 Ứng dụng lí thuyết ngôn ngữ đánh giá vào phân tích ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết For whom the bell tolls của Ernest Hemingway / Hàn Thị Bích Ngọc // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 72-80 .- 400

Tập trung vào phân tích thái độ của nhân vật thể hiện trong đối thoại thông qua hệ thống “Thái độ” của lí thuyết Ngôn ngữ đánh giá do Martin & White (2005) đề xuất. Mô hình này sẽ được áp dụng để phân tích ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết For whom the bell tolls (Chuông nguyện hồn ai), một tác phẩm nổi tiếng về đề tài chiến tranh của nhà văn Mỹ Ernest Hemingway.

6 Dịch ẩn dụ trong văn học: Phân tích hai bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết The Strange Case of Dr. Jekyll and Mr. Hyde / Phạm Thái Bảo Ngọc, Nguyễn Hoàng Trung // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 13-22 .- 400

Dịch ẩn dụ là thách thức lớn, ngay cả với dịch giả chuyên nghiệp. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về dịch ẩn dụ, nhưng ở Việt Nam, việc đánh giá các bản dịch ẩn dụ trong văn chương vẫn còn hạn chế. Bài viết này áp dụng hệ thống phân loại tiến trình dịch ẩn dụ theo ngôn ngữ học tri nhận và Mô hình ba chiều kích của ẩn dụ để tìm hiểu về ý nghĩa của ẩn dụ trong chu cảnh, phân loại tiến trình dịch, và nhận xét về các hao tổn, hay bất tương thích, trong hai bản dịch tiếng Việt của tiểu thuyết The Strange Case of Dr. Jekyll and Mr. Hyde. Kết quả cho thấy, tiến trình thay đổi ẩn dụ ý niệm khi dịch thường gây ra nhiều vấn đề nhất, đặc biệt làm hao tổn ý nghĩa và sắc thái của ẩn dụ, đồng thời chưa thể hiện đúng chức năng của ẩn dụ trong chu cảnh. Các vấn đề trong hai bản dịch đều rất đa dạng, trong đó việc dịch sai nghĩa và làm mất tính liên kết, làm giảm tính mạch lạc về chủ đề là phổ biến nhất. Từ đó, bài viết đề xuất cách tiếp cận toàn diện dựa trên ba chiều kích của ẩn dụ để nâng cao chất lượng bản dịch, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hiểu rõ chức năng của ẩn dụ trong chu cảnh.

7 Cấu trúc tiểu thuyết và trò chơi của sự đọc nhìn từ kí hiệu con số trong tiểu thuyết Palomar của Italo Calvino / Nguyễn Quang Khải // Khoa học và Công nghệ .- 2025 .- Số 01(68) .- .- 895.923

Bài viết này phân tích cấu trúc tiểu thuyết và đề xuất một cách đọc tác phẩm từ việc xem xét kí hiệu các con số trong Palomar - cuốn tiểu thuyết xuất bản cuối cùng trong sự nghiệp của nhà văn Italia nổi tiếng, Italo Calvino. Trong Palomar, người đọc không thể không chú ý đến sự xuất hiện của các con số như một bộ mã quan trọng gắn với cấu trúc tiểu thuyết và sự vận động của tư tưởng. Các con số này không chỉ đơn thuần là các số học trong thứ tự các tiêu đề mà chúng còn mang ý nghĩa tượng trưng và cấu trúc cho suy nghĩ phức tạp của nhân vật chính, Mr. Palomar, về thế giới xung quanh, cũng như kiến tạo mối kết nối giữa các mảnh rời rạc của các phần truyện khác nhau. Các con số xuất hiện trong mục lục kèm ghi chú của tác giả như một hướng dẫn đọc cho những ai muốn đi sâu dưới bề mặt văn bản. Vì thế phần “giống như là” mục lục thực chất cũng là một bộ phận không thể tách rời toàn bộ cấu trúc văn bản. Về mặt hình thức, nó khiến cho cuốn sách dao động giữa lằn ranh thể loại: non fiction hoặc fiction. Về mặt kết cấu, nó vừa là một khối 3 mặt gắn bó chặt chẽ, đồng thời như một “siêu văn bản” chồng xếp đa tầng các lớp truyện, gợi mở các thế giới khác nhau và các cách tiếp cận khác nhau. Bài viết sử dụng phương pháp cấu trúc, kí hiệu học để tiếp cận, phân tích kết cấu tiểu thuyết độc đáo và quan điểm về sự đọc mà Italo Calvino đã bày tỏ thông qua tác phẩm này.

8 Biểu thức miêu tả chiếu vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng (qua tiểu thuyết Số đỏ và Giông tố) / Đặng Nhật Minh // .- 2024 .- Số 353 - Tháng 5 .- Tr. 186-191 .- 800.01

Nghiên cứu biểu thức miêu tả chiếu vật trong hai cuốn tiểu thuyết là Giông tố và Số đỏ của Vũ Trọng Phụng trên các phương diện cấu tạo, đặc điểm và giá trị phong cách của tác giả. Chiếu vật là phương diện ngữ dụng đầu tiên của diễn ngôn. Đối với các tác phẩm văn học, chiếu vật thường đa dạng và mang hàm ngôn.

9 Vài nét về giai đoạn đầu của tiểu thuyết tiên phong Trung Quốc đương đại / Đào Văn Lưu // .- 2024 .- Số 3 (271) - Tháng 3 .- Tr. 60-68 .- 800.01

Phân tích về bối cảnh ra đời, khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của tiểu thuyết Tiên phong đối với sự phát triển của văn học Trung Quốc đương đại. Tiểu thuyết Tiên phong theo nghĩa hẹp chỉ là những tiểu thuyết liên quan mật thiết, chịu ảnh hưởng trực tiếp của những sang tác văn học thuộc trào lưu triết học hiện đại, trào lưu mỹ học và chủ nghĩa hiện đại phương Tây.

10 Tiểu thuyết về đề tài “tam nông” Trung Quốc đầu thế kỷ XXI / Đào Văn Lưu // .- 2023 .- Số 5 (261) - Tháng 5 .- Tr. 42-54 .- 800.01

Khái quát về một số đặc điểm của tiểu thuyết về đề tài “tam nông” giai đoạn đầu thế kỷ XXI, cũng như thân phận nông dân ở khía cạnh là người lao động nhập cư trong xã hội Trung Quốc đương đại cũng như trong dòng chảy văn học Trung Quốc hiện nay.