CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Sản khoa

  • Duyệt theo:
1 Kết cục thai kỳ xấu và yếu tố liên quan ở sản phụ tiền sản giật tại Hải Phòng / Nguyễn Thanh Hải, Bùi Văn Hiếu // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 236-243 .- 610

Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kết cục thai kỳ xấu ở 230 sản phụ mắc tiền sản giật tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng từ 01/2021 đến 12/2022 dựa vào thu thập dữ liệu từ hồ sơ bệnh án. Kết cục thai kỳ xấu được xác định khi có ít nhất một biến cố ở mẹ (tử vong, sản giật, HELLP, nhau bong non, tổn thương thận, phù phổi, xuất huyết não) hoặc ở con (thai nhẹ cân, chậm phát triển trong tử cung, tử vong chu sinh).

2 Kết cục thai kỳ và các yếu tố liên quan đến mức độ nặng ở thai phụ tiền sản giật khởi phát sớm tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội / Đặng Văn Tốt, Vũ Văn Du, Mai Trọng Hưng, Hồ Thị Trang, Nguyễn Thị Hằng // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 280-288 .- 610

Nghiên cứu nhằm mô tả kết cục thai kỳ ở thai phụ tiền sản giật khởi phát sớm và phân tích một số yếu tố liên quan đến tiền sản giật có dấu hiệu nặng ở nhóm thai phụ này. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 216 bệnh nhân tiền sản giật khởi phát sớm (< 34 tuần) điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội giai đoạn 2021 – 2025.

3 Tỷ lệ và yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp kéo dài sau đẻ trên các sản phụ tăng huyết áp trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương / Nguyễn Thị Huyền Anh, Nguyễn Mạnh Thắng, Trương Thanh Hương // .- 2024 .- Tập 180 - Số 07 .- Tr. 194-204 .- 610

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định tỷ lệ và yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp kéo dài sau đẻ 3 tháng trên các sản phụ tăng huyết áp trong thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Nghiên cứu thuần tập tiến cứu trên 360 sản phụ tăng huyết áp trong thai kỳ đẻ tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 01/2023 đến tháng 11/2023. Các sản phụ được lựa chọn tham gia nghiên cứu trong vòng 24 giờ đầu sau đẻ và được theo dõi huyết áp đến 3 tháng sau đẻ. Trong 360 sản phụ tham gia nghiên cứu, 301 sản phụ được theo dõi đến 3 tháng sau đẻ (tỷ lệ theo dõi thành công là 83,6%). 7,6% sản phụ tăng huyết áp trong thai kỳ có tăng huyết áp kéo dài sau đẻ 3 tháng.

4 Tình trạng vòi tử cung và phương pháp xử trí trên bệnh nhân vô sinh có tắc đoạn gần vòi tử cung hai bên trên phim chụp tử cung - vòi tử cung / Vũ Văn Du, Lê Thị Ngọc Hương, Nguyễn Thị Lập, Nguyễn Thị Hà, Nguyễn Bá Thiết // .- 2024 .- Tập 180 - Số 07 .- Tr. 86-93 .- 610

Để chẩn đoán và điều trị vô sinh do tắc đoạn gần vòi tử cung thì phẫu thuật nội soi là một trong những phương pháp được ưu tiên lựa chọn. Với 125 bệnh nhân vô sinh có tắc đoạn gần vòi tử cung hai bên trên phim chụp tử cung - vòi tử cung (HSG - Hysterosalpingography) được thực hiện phẫu thuật nội soi từ năm 2017 đến năm 2023 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.

5 Kết quả noãn, phôi của phác đồ kích thích buồng trứng sử dụng Progestin so với phác đồ antagonist tại Bệnh viện Đa khoa Phương Đông / Lê Vũ Hải Duy, Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Hà Thị Hoài Linh // .- 2025 .- Tập 189 - Số 4 .- Tr. 195-202 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 512 bệnh nhân được thụ tinh trong ống nghiệm và chia thành hai nhóm: PPOS (n = 252) và Antagonist (n = 260). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các đặc điểm cơ bản (tuổi, BMI, AMH, AFC, FSH, LH) giữa hai nhóm nghiên cứu.

6 Gây mê hồi sức để mổ lấy thai cho sản phụ thông liên thất có tăng áp lực động mạch phổi nặng: Báo cáo một ca lâm sàng / Dương Nữ Diệp Anh, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Hữu Tú, Nguyễn Thanh Huyền, Lê Văn Tiến, Trần Thanh Hùng, Trần Thị Cúc // .- 2025 .- Tập 187 - Số 2 .- Tr. 352-359 .- 610

Thai kì bị chống chỉ định ở bệnh nhân có tăng áp lực mạch phổi vì tỉ lệ tử vong cao, tuy nhiên một số bệnh nhân lựa chọn mang thai hoặc mới phát hiện bệnh khi khám thai định kì. Gây mê mổ lấy thai cho bệnh nhân tăng áp lực mạch phổi là một thách thức lớn đòi hỏi bác sĩ gây mê hồi sức cần có chiến lược gây mê thận trọng, phối hợp đa chuyên khoa: bác sĩ sản khoa, tim mạch, sơ sinh. Chúng tôi báo cáo một trường hợp lâm sàng hiếm gặp, bệnh nhân nữ 28 tuổi, tiền sử thông liên thất – tăng áp lực mạch phổi cố định, bỏ theo dõi và điều trị tim mạch sau khi quyết định mang thai.

7 So sánh đặc điểm và kết cục thai kỳ tiền sản giật giữa thai tự nhiên và thai thụ tinh trong ống nghiệm / Mai Hồng Chuyên, Trịnh Thế Sơn, Hồ Sỹ Hùng // .- 2025 .- Tập 186 - Số 1 .- Tr. 177-183 .- 618

Thụ tinh trong ống nghiệm đã được khẳng định là một trong những yếu tố nguy cơ của tiền sản giật. Nghiên cứu hồi cứu mô tả, so sánh đặc điểm, kết cục thai kỳ giữa 93 thai phụ thụ tinh trong ống nghiệm và 381 thai phụ thai tự nhiên mắc tiền sản giật từ 1/1/2023 đến 31/12/2023 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. So sánh giữa nhóm thai tự nhiên và nhóm thai thụ tinh trong ống nghiệm

8 Báo cáo hàng loạt ca: Đặc điểm những trường hợp thai ngoài tử cung vỡ mất máu ≥ 300ml / Nguyễn Quốc Tuấn, Lê Hồng Thịnh, Nguyễn Thái Hoàng, Lê Trần Thanh Thảo, Nguyễn Xuân Mỹ // .- 2025 .- Tập 186 - Số 1 .- Tr. 333-339 .- 618

Nghiên cứu đặc điểm và mô tả kết quả điều trị của những trường hợp thai ngoài tử cung vỡ có lượng máu mất ≥ 300ml. Đối tượng nghiên cứu là những trường hợp bị thai ngoài tử cung vỡ có lượng máu mất ≥ 300ml.

9 Kết quả kích thích buồng trứng và tạo phôi của phác đồ PPOS tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương / Nguyễn Thành Luân, Nguyễn Đình Tảo, Trần Thị Thu Hằng, Trần Thị Vân Anh, Trần Thị Thuỷ, Ngô Văn Thịnh, Trịnh Thế Sơn, Hồ Sỹ Hùng // .- 2025 .- Tập 187 - Số 6 .- Tr. 101-107 .- 618

Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang đánh giá kết quả noãn và thụ tinh của phác đồ PPOS (Progestin Primed Ovarian Stimulation) tại bệnh viện Phụ sản trung ương. Dữ liệu từ 106 chu kỳ kích thích buồng trứng bằng phác đồ PPOS

10 Đánh giá kết quả soi buồng tử cung cắt polyp ở bệnh nhân vô sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương / Vũ Văn Du, Hoàng Nghĩa Tuấn, Lê Thị Ngọc Hương, Đặng Văn Tốt, Nguyễn Thị Hằng // .- 2025 .- Tập 186 - Số1 .- Tr. 95-102 .- 618

Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của polyp niêm mạc buồng tử cung ở bệnh nhân vô sinh và nhận xét kết quả xử trí polyp niêm mạc buồng tử cung bằng phẫu thuật nội soi ở nhóm bệnh nhân này tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 8/2022 đến tháng 7/2023. Cỡ mẫu gồm 194 bệnh nhân với độ tuổi trung bình 31,6 ± 5,8 tuổi, phần lớn bệnh nhân chưa có con. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là rong kinh rong huyết.