CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Bệnh--Mề đay
1 Mức độ kiểm soát bệnh, chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người bệnh mày đay mạn tính / Bùi Văn Dân, Bùi Bích Thảo, Trần Thị Mùi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 475-482 .- 610
Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích đánh giá mức độ kiểm soát bệnh, chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở người bệnh mày đay mạn tính (CU), mô tả cắt ngang trên 50 người bệnh CU khám ngoại trú tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 1/2025 đến tháng 1/2026, áp dụng các bộ câu hỏi UAS7, UCT và CU-QoL để lượng giá tình trạng bệnh. Kết quả cho thấy nữ giới chiếm 58%, nhóm tuổi 18 - 39 chiếm ưu thế (66%). Đa số người bệnh ở tình trạng không kiểm soát bệnh (96%). Miền ảnh hưởng do ngứa và rối loạn giấc ngủ là hai khía cạnh chất lượng cuộc sống bị tác động nhiều nhất, với điểm CU-QoL lần lượt là 3,39 ± 0,95 và 2,78 ± 0,97. Nghiên cứu ghi nhận mối tương quan nghịch chặt chẽ giữa mức độ kiểm soát (UCT) và suy giảm chất lượng cuộc sống (r = -0,74; p < 0,001). Do đó, CU gây gánh nặng lớn lên chất lượng cuộc sống và khó kiểm soát hoàn toàn trong thực hành lâm sàng.
2 Kháng thể IgE đặc hiệu và xét nghiệm lẩy da trên bệnh nhân mề đay / Phạm Đình Lâm, Văn Thế Trung // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2017 .- Số 1 .- Tr. 36-43 .- 610
67 bệnh nhân mề đây, trong đó có 55,2 phần trăm bệnh nhân có ít nhất 1 kết quả IgE huyết thanh dương tính. Nhóm dị ứng nguyên hô hấp dương tính 52,2 phần trăm. Chỉ có 6 phần trăm bệnh nhân mề đay dương tính với dị ứng nguyên thực phẩm gồm bạch tuộc, mực, tôm, cua, gà và cá mòi. Xét nghiệm lẩy da có 1 trường hợp dương tính với tôm. Nhóm ở mức độ ngứa nặng có nguy cơ dị ứng với mạt cao hơn nhóm ngứa nhẹ.





