CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Phẫu thuật

  • Duyệt theo:
1 Nghiên cứu tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý trong phẫu thuật cắt giáp và nạo hạch cổ nhóm vi tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023 / Võ Duy Phi Vũ, Trần Thị Anh Tường, Trần Sơn Vũ, Huỳnh Thanh Hổ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 3 - 8 .- 610

Cắt tuyến phó giáp không chủ ý (IP) là một biến chứng không phải không thường gặp khi phẫu thuật tuyến giáp trong điều trị ung thư tuyến giáp. IP có thể làm tăng biến chứng giảm canxi máu tạm thời hay vĩnh viễn sau mổ. Tuy vậy, IP vẫn còn ít được nghiên cứu. Mặc dù các yếu tố nguy cơ của IP chưa biết hết nhưng phẫu thuật viên nên nỗ lực hết sức để bảo tồn tuyến phó giáp. Đối tượng - phương pháp: Chúng tôi hồi cứu 195 ca ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023. Phân tích đơn biến được chúng tôi phân tích để tìm các yếu tố nguy cơ của IP trong nghiên cứu này. Kết quả: Nghiên cứu có 195 ca cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI có hay không có kết hợp nạo hạch cổ bên. Tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý là 8,7%. Có 1 trường hợp tuyến phó giáp nằm trong bệnh phẩm tuyến giáp, còn lại nằm trong bệnh phẩm hạch nhóm VI. Không có yếu tố nguy cơ nào làm tăng IP có ý nghĩa thống kê và IP cũng không làm tăng nguy cơ giảm canxi do suy phó giáp sau phẫu thuật. Kết luận: Cắt tuyến phó giáp không chủ ý không phải hiếm gặp ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Nên áp dụng kỹ thuật mới trong quang phổ cận hồng ngoại để tăng tỉ lệ bảo tồn tuyến phó giáp trong phẫu thuật tuyến giáp nhất là khi có nạo hạch cổ nhóm VI.

2 Khảo sát tình trạng di căn hạch trong ung thư dạ dày sau phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM / Nguyễn Văn Vẹn, Phạm Hùng Cường, Nguyễn Tuấn Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 228 - 233 .- 610

Di căn hạch là một yếu tố tiên lượng quan trọng trong ung thư dạ dày. Nghiên cứu nhằm hai mục tiêu: Một là đánh giá mối liên quan giữa tình trạng di căn hạch với một số yếu tố giải phẫu bệnh, hai là khảo sát sự phân bố hạch di căn ở các nhóm hạch trong ung thư dạ dày. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả 94 trường hợp ung thư dạ dày loại carcinôm tuyến điều trị phẫu thuật cắt dạ dày - nạo hạch tại Khoa Ngoại ngực, bụng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong thời gian 10/2023 - 6/2024. Kết quả: Có 57/94 (60,6%) trường hợp có di căn hạch sau mổ. Kích thước u, dạng đại thể Borrmann, độ sâu xâm lấn khối u, xâm nhập mạch bạch huyết và xâm nhập thần kinh là các yếu liên quan đến khả năng di căn hạch khi phân tích đơn biến. Độ sâu xâm lấn và xâm nhập mạch bạch huyết là hai yếu tố tiên đoán độc lập. Tỉ lệ di căn hạch ở nhóm hạch số 1 - 6 (56,4%) cao hơn đáng kể ở nhóm hạch số 7 - 12 (38,3%); tỉ lệ di căn hạch nhảy cóc là 4,3%. Với ung thư dạ dày phần ba trên, các hạch di căn phân bố nhiều tại nhóm 1, 3, 2 (chặng 1) và nhóm 7, 8 (chặng 2). Ung thư phần ba giữa, hạch di căn phân bố nhiều tại nhóm 3, 1, 4d (chặng 1) và nhóm 7, 8, 9 (chặng 2). Còn ung thư phần ba dưới, di căn tập trung tại nhóm 6, 4d, 3 (chặng 1) và nhóm 7, 8, 11p (chặng 2). Kết luận: Độ sâu xâm lấn khối u và xâm nhập mạch bạch huyết là hai yếu tố tiên đoán độc lập đối với tình trạng di căn hạch trong ung thư dạ dày. Sự phân bố hạch vùng di căn trong ung thư dạ dày phụ thuộc vào vị trí tổn thương; ở chặng 1, di căn hạch có xu hướng đến các nhóm hạch quanh tổn thương; còn ở chặng 2, hạch di căn tập trung chủ yếu ở các hạch quanh mạch máu lớn như nhóm số 7, 8 và nhóm 9

3 Kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Lưu Thị Tố Uyên, Vi Quỳnh Hoa, Quách Chính Nghĩa, Nguyễn Hữu Tới, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 147 - 153 .- 610

Đánh giá kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân (BN) phẫu thuật tại bệnh viện hữu nghị (HN) Việt Đức. Đối tượng và phương pháp: 128 BN phẫu thuật được chỉ định khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho được nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc. Kết quả: Số BN chảy máu sau 1 giờ, 24 giờ truyền khối tiểu cầu (KTC) gạn tách giảm tương ứng từ 46,9% xuống 17,2%; 5,5%. Số lượng tiểu cầu sau truyền 1 giờ, 24 giờ lần lượt là: 117,41G/l; 99,66G/l tăng 53,55G/l và 35,80G/l so với trước truyền. Tỷ lệ BN có phản ứng sau truyền KTC gạn tách sốt, dị ứng là 0,78%; 3,1%. Kết luận: Sau truyền KTC gạn tách 1 giờ, 24 giờ: tình trạng chảy máu của BN giảm, số lượng tiểu cầu (SLTC) tăng trên 30G/l, tỷ lệ tai biến sau truyền thấp.

4 Tăng trưởng ở trẻ sơ sinh được hồi sức sau phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và các yếu tố liên quan / Nguyễn Thị Ngân Hà, Nguyễn Đức Toàn, Phạm Thị Thanh Tâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 71 - 78 .- 610

Khảo sát các đặc điểm hỗ trợ dinh dưỡng và xác định kết cục cũng như các yếu tố liên quan đến tăng trưởng ở trẻ sơ sinh được hồi sức sau phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Nghiên cứu cắt ngang từ 2/2024 đến 9/2024 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Có 61 trẻ sơ sinh thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian thực hiện nghiên cứu. Khi xuất khoa, số trẻ chậm tăng trưởng ngoài tử cung chiếm tỉ lệ cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Trong khi ở thời điểm lúc sinh, nhóm nhẹ cân so với tuổi thai chỉ chiếm 16 ca (26,2%). Trong số 61 ca, có 6 bệnh nhân (9,8%) tử vong. Kết luận: Tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung khi xuất khoa của trẻ sơ sinh được hồi sức hậu phẫu đường tiêu hóa còn rất cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Từ đó thấy rằng dinh dưỡng ở nhóm đối tượng này cần được quan tâm sâu sắc. Cần có chiến lược điều trị và đánh giá dinh dưỡng thích hợp để giảm tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung. Ngoài ra, cần xác định các yếu tố nguy cơ để phát triển các chiến lược điều trị cũng như tiên lượng cho nhóm đối tượng này.

5 Chất lượng cuộc sống của trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung : tác động của Rối loạn đại tiện và chương trình Quản lý ruột / Lê Thị Ngọc Lan, Phùng Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Thị Bích Uyên, Hồ Thị Thùy Trang, Trần Thị Mỹ Linh, Lê Nguyễn Thanh Nhàn, Hà Mạnh Tuấn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD .- Tr. 42 - 49 .- 610

Bệnh Hirschsprung là một rối loạn bẩm sinh, đặc trưng bởi sự vắng mặt của các tế bào hạch thần kinh ở thành ruột, dẫn đến tắc nghẽn chức năng. Mặc dù có những tiến bộ trong phẫu thuật điều trị, nhiều trẻ vẫn gặp phải các biến chứng lâu dài, đặc biệt là rối loạn đại tiện như táo bón và són phân, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống (CLCS). Nghiên cứu nhằm đánh giá CLCS của trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung bằng thang đo PedsQL 4.0 và xác định các yếu tố chính, bao gồm rối loạn đại tiện và chương trình quản lý ruột, ảnh hưởng đến kết quả CLCS. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 65 trẻ từ 2-16 tuổi đã phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Dữ liệu về CLCS được thu thập qua bộ câu hỏi PedsQL 4.0. Các yếu tố như phương pháp phẫu thuật, rối loạn đại tiện, và sự tham gia của gia đình trong chương trình quản lý ruột được phân tích bằng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả: Điểm trung bình CLCS chung là 67,5 ± 12,3, trong đó trẻ nhỏ (2–6 tuổi) có điểm cao hơn trẻ lớn. Rối loạn đại tiện, bao gồm táo bón mạn tính và són phân, có mối liên hệ chặt chẽ với điểm CLCS thấp hơn (p < 0,05). Chương trình quản lý ruột mang lại hiệu quả tích cực trong việc cải thiện thể chất và tinh thần cho trẻ, nhấn mạnh vai trò quan trọng của can thiệp này trong chăm sóc sau mổ. Kết luận: Rối loạn đại tiện là thách thức lớn đối với trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung, làm ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS của trẻ. Chương trình quản lý ruột là yếu tố cần thiết để giải quyết các vấn đề này, nhằm nâng cao phục hồi chức năng và cải thiện kết quả CLCS lâu dài. Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để tối ưu hóa chiến lược chăm sóc và hỗ trợ cho trẻ cũng như gia đình.

6 Đánh giá tình trạng loạn năng của hàm dưới sau phẫu thuật cắt đoạn xương hàm dưới đặt nẹp tái tạo / Đoàn Cao Quốc Duy // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 131-139 .- 610

Nẹp tái tạo là phương tiện phổ biến để tái tạo khuyết hổng xương hàm dưới (XHD), tuy nhiên, tình trạng chức năng của hàm dưới trên những bệnh nhân (BN) được đặt nẹp giữ khoảng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: Đánh giá tình trạng chức năng hàm dưới sau phẫu thuật (PT) cắt đoạn XHD đặt nẹp tái tạo. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca lâm sàng tiến cứu trên 19 bệnh nhân (BN) sau PT cắt đoạn XHD đặt nẹp tái tạo tại khoa Phẫu thuật Hàm Mặt bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/10/2022 đến ngày 31/08/2023 Kết quả: Ở thời điểm tái khám, 84,2% BN có dấu hiệu loạn năng ở mức độ nhẹ - trung bình theo chỉ số loạn năng lâm sàng Helkimo. Biểu hiện thường gặp là giảm biên độ vận động hàm kèm đau ở khớp khi vận động. Trên hình ảnh cắt lớp vi tính, lồi cầu (LC) bên PT có xu hướng di chuyển ra trước - xuống dưới. Kết luận: Tái tạo khuyết hổng XHD bằng nẹp có liên quan đến tình trạng loạn năng hàm dưới ở mức độ nhẹ đến trung bình.

7 Biến chứng sau phẫu thuật cắt ga / Hồ Văn Linh, Đặng Quốc Ái // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 265 - 268 .- 610

Trình bày tần suất và các yếu tố ảnh hưởng đến biến chứng sau phẫu thuật cắt gan. Đối tượng và phương pháp: Bao gồm 406 bệnh nhân được cắt gan tại Bệnh viện Trung ương Huế từ 01/2017-05/2025. Kết quả: Qua 406 bệnh nhân cắt gan thu được một số kết quả sau: Tuổi trung bình 61±11,9(30-80), tỷ lệ nam/nữ # 4:1. Cắt gan lớn so với cắt gan nhỏ tương ứng 52,5% và 47,5%, thời gian kẹp cuống gan toàn bộ (pringle manoeuvre) 42,5±17,3 (15-90) phút. Biến chứng chung sau phẫu thuật 50 (12,3%) bệnh nhân nghi nhận 71 biến chứng, trong đó, nhiễm trùng vết mổ 4,2%, rò mật 3,2%, abscess tồn dư 2,7%, suy tế bào gan 2,2%, cổ trướng kéo dài 2,2%, tràn dịch màng phổi 1,7%, chảy máu diện cắt gan 0,7% và tử vong sau phẫu thuật 0,7% bệnh nhân. Kết luận: Cắt gan lớn có liên quan đến suy gan sau phẫu thuật là một biến chứng có khả năng gây tử vong cao và hiện có rất ít lựa chọn điều trị hiệu quả. Việc lựa chọn bệnh nhân phù hợp và chuẩn bị tiền phẫu chu đáo đóng vai trò then chốt trong phòng ngừa biến chứng này. Biến chứng sau phẫu thuật cắt gan vẫn còn cao, nhiều nhất là nhiễm trùng vết mổ, tiếp theo là rò mật. Tuy nhiên, các biến chứng này không đe dọa nghiêm trọng tính mạn nhưng lại kéo dài thời gian điều trị của bệnh nhân.

8 Đánh giá kết quả điều trị ung thư gan nguyên phát qua giai đoạn phẫu thuật bằng nút mạch hóa dầu tại Hải Phòng / Lê Minh Quang // Y học thực hành .- 2024 .- Số 3 .- Tr. 20-22 .- 610

Purpose: to determine the results of transcatheter oily chemoembolization for non-operable hepatocellular carcinoma treated at Viet Tiep Hospital. Patients and method: A retrospective study of 51 cases of unresectable hepatocellular carcinoma treated by oily chemoembolization at Viet Tiep hospital from 2011 to 2014. Results: 116 transcatheter oily chemoembolizations were performed for 51 liver cancer patients. Common complication is post-embolization syndrome, which raised up to 75 percent. Pain symptom reduced from 66.6 percent pre-emboliztion to 20 percent at 3rd month of post-opration. 12-month; 24- month and 36-month survival rate is 55.4 percent; 29 percent and 12.9 percent respectively. Conclusion: Transcatheter oily chemoembolization is relatively safe and tolerable, which help to relieve clinical symptoms. Survival rate after 1, 2 and 3-year was 55.4 percent; 29 percent and 12.9 percent.

9 Đánh giá kết quả bước đầu vi phẫu phẫu thuật u não tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa Nghệ An / Hoàng Kim Tuấn, Dương Đình Chỉnh // Y học thực hành .- 2024 .- Số 2 .- Tr. 6-8 .- 610

Objective: To evaluate the results of microsurgical treatment of brain tumors at Nghe An general friendship hospital. Material and Methods: The retrospective and descriptive study of 52 brain tumors patients who had microsurgery at Nghe An general friendship hospital from 09/2013 to 09/2105. Results: The lowest age was 17 years, highest age was 65 years, average age was 44.15. Including 52 patients with males and females, females/males was 2.25. The clinical signs: headache was 94.23 percent, vomiting was 28.84 percent, papilloedema 25 percent, hemiplegia was seen 19.23 percent. The most frequent of histopathology types of brain tumors accounted for meningiomas 57.69 percent and glial cell tumors 30.76 percent. Post operative results: good 80.76 percent, medium 15.28 percent and bad 3.86 percent. Check each 3 months after operative, 46 patients had significantly improved results to compare before surgery with majority of I, II degree of Kamofsky scale. Conclusion: The results of microsurgery treatment of brain tumor at Nghe An general friendship hospital is relatively good.

10 Kết quả phẫu thuật nội soi điều trị viêm túi mật cấp do sỏi túi mật tại Bệnh viện Quân Y 110 / Nguyễn Hồng Việt, Bùi Tuấn Anh // Y học thực hành .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 50-53 .- 610

Background: Laparoscopic cholecystectomy for acute cholecystitis used to be a contraindication before. However, this method is becoming to be applied more and more because of experiences of surgeons and technical advance. This study was to evaluate the ability, safety and efficacy of this method. Method: Cross-sectional descriptive, retrospective study. Results: 25 patients with acute cholecystitis was applied laparoscopic cholecystectomy. The average of age was 51.21 +/- 7.6. Male/female: 1.5. More than 60 percent of them are in second day of disease. 100 percent had abdominal pain in right upper quadrant. 68 percent had fever of more than 38oC. Ultrasound with thick gall-bladder wall was in 100 percent. Number of white blood was more than 15GIL in 40 percent of patients. Average operating time: 65.2 +/- 12.9 minutes. The average time of hospital stay after operation was 6.8 +/- 2.5 days. Best and middle result was in 92 percent. One case had biliary leakage. Conclusion: Laparoscopic cholecystectomy was a realiable, safe and effective method for treatment of acute cholecystitis.