CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Phẫu thuật

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá kết quả phẫu thuật cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn potsic III / Nguyễn Viết Thanh Tùng, Phạm Trần Anh, Nguyễn Đức Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 30 - 34 .- 610

Đánh giá kết quả phẫu thuật cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn Potsic III. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca bệnh. Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện tai mũi họng trung ương, thời gian nghiên cứu từ năm 2017 tới năm 2025. Bệnh nhân nghiên cứu: 38 bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu: Qua nghiên cứu 38 trường hợp cholesteatoma bẩm sinh giai đoạn Potsic III được phẫu thuật, bước đầu chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: bệnh nhân trung bình 5,5±3,6 tuổi; Tất cả bệnh nhân được theo dõi ít nhất 6 tháng cho thấy màng nhĩ liền kín trong 36 trường hợp, tỷ lệ cải thiện sức nghe là 28 trường hợp. Có 26 ca không có tồn dư cholesteatoma sau phẫu thuật lần 1, 12 ca tồn dư sau lần thứ 1 và 2 ca trải qua phẫu thuật lần 3 để loại bỏ bệnh tích; chưa phát hiện trường hợp nào xảy ra tai biến trong và sau phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật trên bệnh nhân cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn Potsic III là an toàn, đem lại kết quả tốt, giúp loại bỏ bệnh tích và cải thiện sức nghe cho bệnh nhân, tỷ lệ tai biến thấp, nhưng tỷ lệ tái phát còn cao.

2 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức / Nguyễn Khắc Đông, Dương Trọng Hiền, Nguyễn Hoàng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 38 - 42 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 48 bệnh nhân được chẩn đoán GIST dạ dày và được phẫu thuật cắt u tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2023. Dữ liệu thu thập hồ sơ từ bệnh án, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Độ tuổi trung bình 56,0 ± 15,2. Tỉ lệ nam/nữ là 1,09/1. Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng vùng thượng vị (56,3%), khối u kích thước dao động từ 10 đến 285 mm, chủ yếu là u tế bào hình thoi với 47/48 trường hợp chiếm 97,9%, 22 bệnh nhân (45.8%) được thực hiện bằng phẫu thuật nội soi, 26 bệnh nhân (54,2%) trường hợp được mổ mở, cắt hình chêm là phương án được áp dụng chủ yếu (81,3%), thời gian mổ trung bình là 116,1±54,7 phút, thời gian hậu phẫu trung bình 7,1±2,1 ngày. Kết luận: Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu cho GIST dạ dày. Chẩn đoán cần kết hợp lâm sàng, hình ảnh học và mô bệnh học. Lựa chọn phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào cơ sở y tế và thói quen phẫu thuật viên.

3 Hiệu quả giảm đau sau mổ của phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám trong phẫu thuật cắt phổi có nội soi hỗ trợ / Phạm Việt Anh, Nguyễn Quốc Kính // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 113 - 117 .- 610

Đánh giá hiệu quả giảm đau sau mổ cắt phổi có nội soi hỗ trợ bằng phương pháp phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám với Levobupivacain 0,25% 20ml. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng được thực hiện trên 60 bệnh nhân có chỉ định cắt thùy phổi/phân thùy phổi có nội soi hỗ trợ từ tháng 12/2024 đến 7/2025 tại Bệnh viện K. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm 1 (có phong bế RIPB và sử dụng IV-PCA) và nhóm 2 (IV-PCA đơn thuần). Các chỉ số theo dõi gồm VAS khi nghỉ, vận động, ho và nhu cầu sử dụng morphin sau phẫu thuật. Kết quả: Hiệu quả giảm đau ở Nhóm 1 tốt hơn đáng kể: Điểm VAS ở Nhóm 1 thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các thời điểm đánh giá khi nghỉ, vận động và ho (p < 0.05). Tổng liều morphin tiêu thụ Nhóm 1 sau phẫu thuật thấp hơn đáng kể trong 24 giờ (4.0 ± 2.4 mg vs 23.7 ± 9.2 mg, p < 0.001) và 48 giờ (13.6 ± 3.8 mg vs 36.8 ± 11.7 mg, p < 0.001). Thời gian đến khi cần liều morphin cứu hộ đầu tiên ở Nhóm 1 lâu hơn rất nhiều (12.2 ± 5.5 giờ vs 0.3 ± 0.2 giờ, p < 0.001). Kết luận: Phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám là một kỹ thuật giảm đau hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân cắt phổi có nội soi hỗ trợ. Kỹ thuật này giúp giảm đáng kể mức tiêu thụ morphin, cải thiện chất lượng giảm đau và an toàn, ít tác dụng phụ. Phương pháp này đem tới cho các bác sĩ gây mê một lựa chọn bổ sung trong giảm đau đa mô thức chu phẫu.

4 Khảo sát trình trạng dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp trên CT scan ứng dụng trong phẫu thuật điều trị xốp xơ tai / Lê Quang, Huỳnh Lê Hoàng Kim, Dương Thanh Hồng, Nguyễn Thanh Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 280 - 284 .- 610

Xốp xơ tai là bệnh lý do rối loạn chuyển hóa xương mê nhĩ, gây cố định xương bàn đạp và dẫn đến giảm thính lực, với điều trị chủ yếu là phẫu thuật thay thế xương bàn đạp. Một trong những biến chứng quan trọng là liệt mặt do nguy cơ thần kinh mặt nằm bất thường, và có thể được phát hiện trước mổ nhờ chụp CT scan xương thái dương. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ và đặc điểm hình ảnh học của tình trạng dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp trên CT scan xương thái dương. Phương pháp: nghiên cứu mô tả thực hiện trên 70 bệnh nhân được phẫu thuật điều trị xốp xơ tai tại bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian khảo sát. Kết quả: Trong 70 tai được phẫu thuật, có 17 trường hợp (24,3%) dây thần kinh mặt che khuất một phần đế xương bàn đạp. Các chỉ số đo khoảng cách từ dây thần kinh mặt đến cành trước (dAC), chỏm (dS) và cành sau xương bàn đạp (dPC) ở nhóm có che khuất đều nhỏ hơn có ý nghĩa so với nhóm không che khuất (p < 0,05). Trong phân tích hồi quy logistic, dPC là yếu tố dự báo mạnh nhất tình trạng che khuất, với AUC = 0,834, độ nhạy 76,5% và độ đặc hiệu 83,0%. Không ghi nhận trường hợp nào liệt mặt sau mổ. Kết luận: Dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp là yếu tố giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật xốp xơ tai. Khoảng cách dPC là chỉ số dự báo đáng tin cậy trên CT Scan, giúp phẫu thuật viên nhận diện trước phẫu thuật và giảm nguy cơ biến chứng.

5 Vai trò của siêu âm tim qua thành ngực trong đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật TOF tại Bệnh viện Đà Nẵng / Hồ Xuân Tuấn, Nguyễn Ngọc Vĩnh Hân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 226 - 229 .- 610

Phẫu thuật sửa chữa triệt để là phương pháp điều trị tiêu chuẩn trong TOF. Trong đó, siêu âm tim qua thành ngực là phương tiện đầu tay với ưu điểm không xâm lấn, chi phí thấp, kết quả tin cậy, giúp chẩn đoán chính xác, hỗ trợ lên kế hoạch điều trị và đánh giá kết quả sau PT.TOF. Mục tiêu: Xác định vai trò của siêu âm tim qua thành ngực trong đánh giá kết quả điều trị PT bệnh nhân TOF. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu có phân tích trên 51 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân TOF được PT tại Bệnh viện Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2022. Kết quả: Về đặc điểm chung, tỷ lệ nữ giới có xu thế cao hơn so với nam giới (56,9% so với 43,1%). Tuổi trung vị là 1,67, phần lớn tập trung ở nhóm 1-5 tuổi (56,9%), kế đến là <1 tuổi với 27,5%. Cân nặng trung vị là 9,0 kg. Sau PT, có sự cải thiện sớm và đáng kể chênh áp qua van ĐMP so với trước điều trị với khác biệt trung bình là 55,64 ± 20,96 mmHg (p<0,001). Sự khác biệt về phân suất tống máu thất trái (EF) trước và sau PT không có ý nghĩa thống kê (p=0,824). Biến chứng thường gặp sau PT TOF là vận động nghịch thường vách liên thất (31,4%), tiếp theo là hẹp ĐMP tồn lưu và shunt tồn lưu thông liên thất cùng chiếm 23,5%. Kết luận: Siêu âm tim qua thành ngực có vai trò quan trọng đánh giá kết quả PT và theo dõi phát hiện các biến chứng sớm sau mổ ở bệnh nhân TOF, góp phần chỉ định can thiệp sớm và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

6 Điều trị u tế bào mầm vùng cùng cụt bằng phương pháp phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 / Hồ Trần Bản, Nguyễn Thị Mỹ Linh, Mai Hoàng Vĩnh Kha, Chu Khánh An, Võ Kim Kha, Trần Quang Minh, Tống Thị Mai Quỳnh, Võ Thị Cẩm Quỳnh, Trần Võ Đức Tân, Lê Sĩ Phong, Vũ Trường Nhân, Huỳnh Thị Vũ Quỳnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 221 - 225 .- 610

Đánh giá kết quả điều trị u tế bào mầm vùng cùng cụt bằng phương pháp phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca ở tất cả bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán UTBM vùng cùng cụt và được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2018 đến 31/12/2024. Kết quả: Từ 34 bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu, tất cả bệnh nhi được cắt trọn u và một phần xương cụt, chủ yếu qua đường ngã dọc sau (91,2%). Vỡ u là biến chứng phẫu thuật thường gặp (23,5%). 2 (5,9%) trường hợp được sinh thiết hạch. Biến chứng nhiễm trùng vết mổ chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 9 (26,5%) trường hợp, trong khi 67,6% bệnh nhi không có biến chứng. 1 (2,9%) trường hợp phẫu thuật lần 2 do u tái phát. U giai đoạn I và nguy cơ thấp chiếm 94,1%. 5 (14,7%) bệnh nhi được phẫu thuật kèm hóa trị. Các bệnh nhi phẫu thuật đơn thuần đều đáp ứng hoàn toàn. Nghiên cứu có 1 ca tái phát (2,9%) và không có trường hợp nào tử vong. Kết luận: Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính với tỷ lệ biến chứng và tái phát thấp.

7 Tái tạo lóc toàn bộ da đầu lộ xương sọ bằng vạt da cơ thang mở rộng xuống dưới và ghép da mỏng  / Lưu Phương Lan, Phạm Ngọc Minh, Lê Kim Nhã // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 281 - 285 .- 610

Lóc toàn bộ da đầu là 1 tổn thương nặng nề có thể gặp phải do tai nạn lao động, đặc biệt ở Việt Nam khi bảo hộ an toàn lao động chưa được chú trọng. Đã có nhiều tác giả tại Việt Nam báo cáo phẫu thuật vi phẫu nối thành công mảng da đầu đứt rời đem lại hiệu quả về cả chức năng và thẩm mỹ. Tại Bệnh viện TWQĐ 108, chúng tôi báo cáo trường hợp không thể mang phần da đầu đứt rời đến Bệnh Viện, bệnh nhân với vết thương lóc toàn bộ da đầu từ mi trên tới vùng chẩm, lộ xương sọ vùng chẩm, đỉnh. Chúng tôi đã che phủ toàn bộ da đầu thành công với việc sử dụng vạt da cơ thang mở rộng xuống dưới để che phủ toàn bộ vùng lộ xương chẩm đỉnh và ghép da mỏng cho các diện khuyết còn lại.

8 Đánh giá kết quả thay khớp háng với kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền tại Bệnh viện Quân Y 121 / Trần Mạnh Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 369 - 373 .- 610

Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng sử dụng kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền tại Bệnh viện Quân y 121. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc trên 71 bệnh nhân (75 khớp háng) được thay khớp háng toàn phần hoặc bán phần từ 3/2020 đến 3/2022. Kết quả phục hồi được đánh giá theo thang điểm Harris tại các thời điểm sau mổ 1, 3 và 6 tháng; đồng thời ghi nhận các biến chứng trong và sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình trên 60 chiếm 45,1%, tỷ lệ nam:nữ gần tương đương. Nguyên nhân chủ yếu là gãy cổ xương đùi (45,3%) và hoại tử chỏm xương đùi (32%). Kết quả sau mổ đạt mức tốt và rất tốt ở 88% khớp, khá 9,3%, trung bình 2,7%. Tỷ lệ trật khớp sau mổ thấp (1,3%), lệch chi <1 cm chiếm đa số (57,1%). Các biến chứng khác gồm huyết khối tĩnh mạch sâu 5,33%, tổn thương thần kinh khoeo ngoài 2,67% và nhiễm khuẩn nông 1,3%. Kết luận: Kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền giúp cải thiện rõ rệt chức năng vận động, giảm đau và hạn chế biến chứng sớm sau mổ.

9 Khẩu phần 24 giờ và một số yếu tố liên quan của người bệnh ung thư thực quản trước phẫu thuật mở thông dạ dày tại Bệnh viện K năm 2024 – 2025 / Hoàng Việt Bách, Phùng Văn Thái, Đào Thị Phúc Thịnh, Lê Thị Hương // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- .- 610

Mô tả khẩu phần 24 giờ và một số yếu tố liên quan tới khẩu phần ăn 24 giờ của người bệnh ung thư thực quản trước phẫu thuật mở thông dạ dày tại Bệnh viện K năm 2024 - 2025. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 96 người bệnh tại khoa Ngoại bụng 1 và Ngoại bụng 2 - Bệnh viện K Tân Triều. Kết quả: Trung bình năng lượng khẩu phần chỉ đạt 997 ± 210 Kcal/ngày, với 97,9% người bệnh không đạt nhu cầu khuyến nghị. Về protein, có 70,8% người bệnh không đạt mức khuyến nghị. Thiếu vitamin, chất xơ và các khoáng chất cũng rất phổ biến, đặc biệt tỷ lệ thiếu Canxi, Magie, vitamin D và chất xơ lên tới 100%. Tỷ lệ người bệnh không đạt nhu cầu năng lượng khẩu phần 24 giờ ở nhóm giai đoạn III–IV là 98,9%, cao hơn rõ rệt so với nhóm giai đoạn I–II (0%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tỷ lệ không đạt nhu cầu năng lượng tăng theo mức độ nuốt nghẹn, đạt 100% ở nhóm nghẹn độ 2, 98,8% ở độ 1, và không có người bệnh nào thuộc nhóm không nghẹn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Về protein, tỷ lệ người bệnh không đạt nhu cầu protein ở nam giới là 73,1%, trong khi toàn bộ nữ giới đều không đạt, sự khác biệt giữa hai giới có ý nghĩa thống kê (p = 0,02). Ngoài ra, nữ giới có mức năng lượng và protein trung bình cao hơn nam, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,01 và p = 0,02). Kết luận: Phần lớn người bệnh ung thư thực quản trước phẫu thuật mở thông dạ dày không đáp ứng nhu cầu khuyến nghị về năng lượng, protein, lipid, glucid. Tình trạng thiếu chất xơ, các vitamin và khoáng chất là rất phổ biến.

10 Đánh giá hiệu quả kéo dài tác dụng giảm đau sau phẫu thuật lấy thai của phương pháp gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên bằng ropivacain 0,375% phối hợp dexamethasone / Nguyễn Phương Anh, Phạm Quang Minh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 100-104 .- 610

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kéo dài giảm đau sau phẫu thuật lấy thai của phương pháp gây tê cơ vuông thắt lưng hai bên bằng ropivacain 0,375% có hoặc không phối hợp dexamethasone. Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, trong khoảng thời gian từ 12/2024 đến 08/2025, trên 60 sản phụ tuổi từ 18 đến 50, phân độ ASA II, cân nặng  50 kg, đường mổ ngang trên vệ, được gây tê tuỷ sống để phẫu thuật lấy thai, gây tê cơ vuông thắt lưng sau mổ để giảm đau. Các bệnh nhân (BN) được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 30 BN: nhóm 1 sử dụng 30ml ropivacain 0,375% phối hợp 8mg dexamethasone (RD), nhóm còn lại sử dụng 30ml ropivacain 0,375% đơn thuần (R). Kết quả: Ở nhóm RD, BN bắt đầu cần morphine muộn hơn, và tổng lượng morphine dùng trong 24 giờ ít hơn so với nhóm R. Điểm VAS khi nghỉ ngơi và vận động qua các thời điểm có xu hướng giảm so với thời điểm trước khi gây tê. Đặc biệt VAS tại thời điểm H12 và H18 sau gây tê nhóm RD thấp hơn nhóm R, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Tần số tim và huyết áp trung bình ở cả 2 nhóm có xu hướng giảm so với thời điểm H0, tuy nhiên đều dao động trong giới hạn sinh lý. Các BN đều hài lòng và không ghi nhận biến chứng nghiêm trọng nào.