CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Phẫu thuật

  • Duyệt theo:
1 Khảo sát khoảng cách từ ngành dài xương đe đến đế bàn đạp trên CT scan và đối chiếu trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp điều trị bệnh xốp xơ tai / Lê Quang, Bạch Võ Thiên Vân, Dương Thanh Hồng, Nguyễn Thanh Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 170 - 175 .- 610

Khảo sát khoảng cách từ ngành dài xương đe đến đế bàn đạp trên CT scan và đối chiếu trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp điều trị bệnh xốp xơ tai. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu trên 49 bệnh nhân được chẩn đoán xốp xơ tai và được chỉ định phẫu thuật thay thế xương bàn đạp bằng trụ dẫn nhân tạo tại Bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM từ tháng 01/2025 đến tháng 08/2025. Kết quả: Tổng cộng 49 bệnh nhân được ghi nhận. Trên CT scan, khoảng cách từ xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp trên mặt phẳng ngang xương bàn đạp và mặt phẳng đứng ngang - xiên lần lượt là 4,06 ± 0,25 mm và 4,02 ± 0,26 mm; khoảng cách từ xương đe đo đến mặt trong đế bàn đạp ở hai mặt phẳng lần lượt là 4,60 ± 0,22 mm và 4,59 ± 0,21 mm. Tương quan Pearson giữa hai mặt phẳng trong mỗi cách đo đều rất cao, lần lượt là r1=0,924 và r2=0,863 (p<0,001). Trong phẫu thuật, khoảng cách đo được ở nhóm 1 (đo từ xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp) và nhóm 2 (đo từ xương đe đến mặt trong đế bàn đạp) lần lượt có trung vị là 4,25 mm [IQR, 4,00 – 4,25] và 4,50 mm [IQR, 4,25 – 4,50]. So với số đo trong phẫu thuật, chỉ mặt phẳng ngang xương bàn đạp ở nhóm 1 là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,17 >0,05). Kết luận: Khoảng cách đo từ ngành dài xương đe đến mặt ngoài đế bàn đạp trên mặt phẳng ngang xương bàn đạp có sự tương đồng cao với khoảng cách tương ứng đo trong phẫu thuật thay thế xương bàn đạp, do đó có khả năng hỗ trợ phẫu thuật viên trong việc dự đoán chiều dài trụ dẫn nhân tạo trước phẫu thuật.

2 Đánh giá tình trạng liền vết thương ở người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu sử dụng kỹ thuật cắt truyền thống tại Khoa Nam học và y học giới tính – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2025 / Chu Thị Chi, Nguyễn Hoài Bắc // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 322 - 326 .- 610

Cắt bao quy đầu là một trong những thủ thuật phẫu thuật phổ biến nhất trên thế giới, nhiều nghiên cứu đưa ra 47 biến chứng phổ biến sau phẫu thuật cắt bao quy đầu trong đó chủ yếu liên quan đến công tác chăm sóc sau phẫu thuật đặc biệt là chăm sóc vết thương (1). Công tác chăm sóc vết thương sau phẫu thuật có vai trò rất quan trọng đến việc hồi phục sau phẫu thuật. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 208 người bệnh sau phẫu thuật cắt bao quy đầu bằng phương pháp truyền thống tại Khoa Nam học và Y học giới tính- Bệnh viện Đại học Y Hà Nội đồng ý tham gia nghiên cứu để đánh giá tình trạng liền vết thương nhằm đánh giá hiệu quả và nâng cao chất lượng chăm sóc vết thương sau phẫu thuật. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy độ tuổi trung bình của người bệnh có phẫu thuật cắt bao quy đầu là 27, có trình độ học vấn từ đại học trở lên chiếm 73.1%, chủ yếu chưa kết hôn chiếm 74.5%, số ngày cắt chỉ trung bình của người bệnh là 11.6 ngày, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật vết thương được đánh giá là liền thương tốt đạt 43.2% còn tại thời điểm cắt chỉ đạt 94.2%, tại thời điểm sau 3 ngày phẫu thuật có 2.4% người bệnh có tình trạng hở hoàn toàn vết mổ và tại thời điểm trước cắt chỉ có 0.5% người bệnh có dấu hiệu nhiễm trùng trung bình cần can thiệp y tế thêm.

3 Kết quả phẫu thuật trồng lại ngón tay cái đứt rời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 / Trần Thị Thanh Hoài, Nguyễn Việt Nam, Trần Chiến, Vũ Hồng Ái, Nguyễn Văn Trường, Ngô Thái Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 293 - 297 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, Xquang tổn thương đứt rời ngón cái, đánh giá kết quả phẫu thuật trồng lại ngón cái đứt rời bằng kỹ thuật vi phẫu. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hồi cứu – tiến cứu trên 30 bệnh nhân bị đứt rời ngón cái được phẫu thuật trồng lại tại Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 (từ tháng 06/2020 đến tháng 06/2025). Kết quả: Phẫu thuật trồng lại ngón cái sau đứt rời đạt tỷ lệ sống cao với 93,3% (28/30), Trong đó, nhóm đứt rời không hoàn toàn có kết quả tốt nhất với 100% sống (16/16), trong khi đứt rời hoàn toàn đạt 85,7% (12/14). Các tổn thương sắc gọn và vùng II–IV có tiên lượng tốt (91,7–100%), trong khi vùng III cho kết quả hạn chế hơn. Khám lại sau 3 tháng, 95% bệnh nhân có kết quả chức năng ở mức I, II, với cảm giác và vận động phục hồi đáng kể theo tiêu chuẩn Chung Wei Chen. Kết luận: Phẫu thuật trồng lại ngón cái sau đứt rời có tỷ lệ sống cao đạt 93,3% (28/30). Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả sống bao gồm kiểu đứt gần hoàn toàn, tổn thương sắc gọn, thời gian thiếu máu dưới 6 giờ và bảo quản đúng cách. Đánh giá kết quả xa cho thấy 95% bệnh nhân đạt mức I, II, khẳng định hiệu quả và tính khả thi của vi phẫu trồng lại tái tạo ngón cái.

4 Chỉ định và kết quả phẫu thuật thay khớp gối toàn phần dạng bản lề tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Nguyễn Mạnh Khánh, Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Thị Hương Liên // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 253 - 258 .- 610

Nhận xét chỉ định và đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp gối dạng bản lề tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Bao gồm 05 bệnh nhân được thay khớp gối dạng bản lề tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ năm 2022-2025. Nghiên cứu mô tả. Kết quả: Cả 05 trường hợp thay khớp gối dạng bản lề bao gồm 2 trường hợp u tế bào khổng lồ đầu dưới xương đùi, 1 trường hợp lỏng khớp nhân tạo vô khuẩn, 2 trường hợp sau mổ đặt spacer kháng sinh do nhiễm trùng sâu quanh khớp nhân tạo. Cả 5 trường hợp đều đạt kết quả tốt và rất tốt sau mổ theo thang điểm KSS, KFS, bệnh nhân có thể trở về sinh hoạt hằng ngày và chưa ghi nhận biến chứng sau mổ. Kết luận: Thay khớp gối dạng bản lề chỉ định đúng mang lại hiệu quả giảm đau và phục hồi chức năng đi lại sớm và tốt cho bệnh nhân.

5 Nghiên cứu tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý trong phẫu thuật cắt giáp và nạo hạch cổ nhóm vi tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023 / Võ Duy Phi Vũ, Trần Thị Anh Tường, Trần Sơn Vũ, Huỳnh Thanh Hổ // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 3 - 8 .- 610

Cắt tuyến phó giáp không chủ ý (IP) là một biến chứng không phải không thường gặp khi phẫu thuật tuyến giáp trong điều trị ung thư tuyến giáp. IP có thể làm tăng biến chứng giảm canxi máu tạm thời hay vĩnh viễn sau mổ. Tuy vậy, IP vẫn còn ít được nghiên cứu. Mặc dù các yếu tố nguy cơ của IP chưa biết hết nhưng phẫu thuật viên nên nỗ lực hết sức để bảo tồn tuyến phó giáp. Đối tượng - phương pháp: Chúng tôi hồi cứu 195 ca ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 02/2023 đến tháng 12/2023. Phân tích đơn biến được chúng tôi phân tích để tìm các yếu tố nguy cơ của IP trong nghiên cứu này. Kết quả: Nghiên cứu có 195 ca cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI có hay không có kết hợp nạo hạch cổ bên. Tỉ lệ cắt tuyến phó giáp không chủ ý là 8,7%. Có 1 trường hợp tuyến phó giáp nằm trong bệnh phẩm tuyến giáp, còn lại nằm trong bệnh phẩm hạch nhóm VI. Không có yếu tố nguy cơ nào làm tăng IP có ý nghĩa thống kê và IP cũng không làm tăng nguy cơ giảm canxi do suy phó giáp sau phẫu thuật. Kết luận: Cắt tuyến phó giáp không chủ ý không phải hiếm gặp ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp được cắt giáp toàn phần và nạo hạch cổ nhóm VI tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Nên áp dụng kỹ thuật mới trong quang phổ cận hồng ngoại để tăng tỉ lệ bảo tồn tuyến phó giáp trong phẫu thuật tuyến giáp nhất là khi có nạo hạch cổ nhóm VI.

6 Khảo sát tình trạng di căn hạch trong ung thư dạ dày sau phẫu thuật tại Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM / Nguyễn Văn Vẹn, Phạm Hùng Cường, Nguyễn Tuấn Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 228 - 233 .- 610

Di căn hạch là một yếu tố tiên lượng quan trọng trong ung thư dạ dày. Nghiên cứu nhằm hai mục tiêu: Một là đánh giá mối liên quan giữa tình trạng di căn hạch với một số yếu tố giải phẫu bệnh, hai là khảo sát sự phân bố hạch di căn ở các nhóm hạch trong ung thư dạ dày. Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả 94 trường hợp ung thư dạ dày loại carcinôm tuyến điều trị phẫu thuật cắt dạ dày - nạo hạch tại Khoa Ngoại ngực, bụng, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM trong thời gian 10/2023 - 6/2024. Kết quả: Có 57/94 (60,6%) trường hợp có di căn hạch sau mổ. Kích thước u, dạng đại thể Borrmann, độ sâu xâm lấn khối u, xâm nhập mạch bạch huyết và xâm nhập thần kinh là các yếu liên quan đến khả năng di căn hạch khi phân tích đơn biến. Độ sâu xâm lấn và xâm nhập mạch bạch huyết là hai yếu tố tiên đoán độc lập. Tỉ lệ di căn hạch ở nhóm hạch số 1 - 6 (56,4%) cao hơn đáng kể ở nhóm hạch số 7 - 12 (38,3%); tỉ lệ di căn hạch nhảy cóc là 4,3%. Với ung thư dạ dày phần ba trên, các hạch di căn phân bố nhiều tại nhóm 1, 3, 2 (chặng 1) và nhóm 7, 8 (chặng 2). Ung thư phần ba giữa, hạch di căn phân bố nhiều tại nhóm 3, 1, 4d (chặng 1) và nhóm 7, 8, 9 (chặng 2). Còn ung thư phần ba dưới, di căn tập trung tại nhóm 6, 4d, 3 (chặng 1) và nhóm 7, 8, 11p (chặng 2). Kết luận: Độ sâu xâm lấn khối u và xâm nhập mạch bạch huyết là hai yếu tố tiên đoán độc lập đối với tình trạng di căn hạch trong ung thư dạ dày. Sự phân bố hạch vùng di căn trong ung thư dạ dày phụ thuộc vào vị trí tổn thương; ở chặng 1, di căn hạch có xu hướng đến các nhóm hạch quanh tổn thương; còn ở chặng 2, hạch di căn tập trung chủ yếu ở các hạch quanh mạch máu lớn như nhóm số 7, 8 và nhóm 9

7 Kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân phẫu thuật tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức / Lưu Thị Tố Uyên, Vi Quỳnh Hoa, Quách Chính Nghĩa, Nguyễn Hữu Tới, Trần Ngọc Quế // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số DB2 .- Tr. 147 - 153 .- 610

Đánh giá kết quả truyền khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho trên bệnh nhân (BN) phẫu thuật tại bệnh viện hữu nghị (HN) Việt Đức. Đối tượng và phương pháp: 128 BN phẫu thuật được chỉ định khối tiểu cầu gạn tách từ một người cho được nghiên cứu tiến cứu, theo dõi dọc. Kết quả: Số BN chảy máu sau 1 giờ, 24 giờ truyền khối tiểu cầu (KTC) gạn tách giảm tương ứng từ 46,9% xuống 17,2%; 5,5%. Số lượng tiểu cầu sau truyền 1 giờ, 24 giờ lần lượt là: 117,41G/l; 99,66G/l tăng 53,55G/l và 35,80G/l so với trước truyền. Tỷ lệ BN có phản ứng sau truyền KTC gạn tách sốt, dị ứng là 0,78%; 3,1%. Kết luận: Sau truyền KTC gạn tách 1 giờ, 24 giờ: tình trạng chảy máu của BN giảm, số lượng tiểu cầu (SLTC) tăng trên 30G/l, tỷ lệ tai biến sau truyền thấp.

8 Tăng trưởng ở trẻ sơ sinh được hồi sức sau phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 và các yếu tố liên quan / Nguyễn Thị Ngân Hà, Nguyễn Đức Toàn, Phạm Thị Thanh Tâm // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 71 - 78 .- 610

Khảo sát các đặc điểm hỗ trợ dinh dưỡng và xác định kết cục cũng như các yếu tố liên quan đến tăng trưởng ở trẻ sơ sinh được hồi sức sau phẫu thuật đường tiêu hóa tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Kết quả: Nghiên cứu cắt ngang từ 2/2024 đến 9/2024 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Có 61 trẻ sơ sinh thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu trong thời gian thực hiện nghiên cứu. Khi xuất khoa, số trẻ chậm tăng trưởng ngoài tử cung chiếm tỉ lệ cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Trong khi ở thời điểm lúc sinh, nhóm nhẹ cân so với tuổi thai chỉ chiếm 16 ca (26,2%). Trong số 61 ca, có 6 bệnh nhân (9,8%) tử vong. Kết luận: Tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung khi xuất khoa của trẻ sơ sinh được hồi sức hậu phẫu đường tiêu hóa còn rất cao với 42 bệnh nhi (68,9%). Từ đó thấy rằng dinh dưỡng ở nhóm đối tượng này cần được quan tâm sâu sắc. Cần có chiến lược điều trị và đánh giá dinh dưỡng thích hợp để giảm tỉ lệ chậm tăng trưởng ngoài tử cung. Ngoài ra, cần xác định các yếu tố nguy cơ để phát triển các chiến lược điều trị cũng như tiên lượng cho nhóm đối tượng này.

9 Chất lượng cuộc sống của trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung : tác động của Rối loạn đại tiện và chương trình Quản lý ruột / Lê Thị Ngọc Lan, Phùng Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Thị Bích Uyên, Hồ Thị Thùy Trang, Trần Thị Mỹ Linh, Lê Nguyễn Thanh Nhàn, Hà Mạnh Tuấn // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD .- Tr. 42 - 49 .- 610

Bệnh Hirschsprung là một rối loạn bẩm sinh, đặc trưng bởi sự vắng mặt của các tế bào hạch thần kinh ở thành ruột, dẫn đến tắc nghẽn chức năng. Mặc dù có những tiến bộ trong phẫu thuật điều trị, nhiều trẻ vẫn gặp phải các biến chứng lâu dài, đặc biệt là rối loạn đại tiện như táo bón và són phân, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống (CLCS). Nghiên cứu nhằm đánh giá CLCS của trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung bằng thang đo PedsQL 4.0 và xác định các yếu tố chính, bao gồm rối loạn đại tiện và chương trình quản lý ruột, ảnh hưởng đến kết quả CLCS. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 65 trẻ từ 2-16 tuổi đã phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 1. Dữ liệu về CLCS được thu thập qua bộ câu hỏi PedsQL 4.0. Các yếu tố như phương pháp phẫu thuật, rối loạn đại tiện, và sự tham gia của gia đình trong chương trình quản lý ruột được phân tích bằng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến. Kết quả: Điểm trung bình CLCS chung là 67,5 ± 12,3, trong đó trẻ nhỏ (2–6 tuổi) có điểm cao hơn trẻ lớn. Rối loạn đại tiện, bao gồm táo bón mạn tính và són phân, có mối liên hệ chặt chẽ với điểm CLCS thấp hơn (p < 0,05). Chương trình quản lý ruột mang lại hiệu quả tích cực trong việc cải thiện thể chất và tinh thần cho trẻ, nhấn mạnh vai trò quan trọng của can thiệp này trong chăm sóc sau mổ. Kết luận: Rối loạn đại tiện là thách thức lớn đối với trẻ sau phẫu thuật bệnh Hirschsprung, làm ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS của trẻ. Chương trình quản lý ruột là yếu tố cần thiết để giải quyết các vấn đề này, nhằm nâng cao phục hồi chức năng và cải thiện kết quả CLCS lâu dài. Cần có thêm các nghiên cứu dài hạn để tối ưu hóa chiến lược chăm sóc và hỗ trợ cho trẻ cũng như gia đình.

10 Đánh giá tình trạng loạn năng của hàm dưới sau phẫu thuật cắt đoạn xương hàm dưới đặt nẹp tái tạo / Đoàn Cao Quốc Duy // Y học thành phố Hồ Chí Minh (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 131-139 .- 610

Nẹp tái tạo là phương tiện phổ biến để tái tạo khuyết hổng xương hàm dưới (XHD), tuy nhiên, tình trạng chức năng của hàm dưới trên những bệnh nhân (BN) được đặt nẹp giữ khoảng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: Đánh giá tình trạng chức năng hàm dưới sau phẫu thuật (PT) cắt đoạn XHD đặt nẹp tái tạo. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu báo cáo loạt ca lâm sàng tiến cứu trên 19 bệnh nhân (BN) sau PT cắt đoạn XHD đặt nẹp tái tạo tại khoa Phẫu thuật Hàm Mặt bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 01/10/2022 đến ngày 31/08/2023 Kết quả: Ở thời điểm tái khám, 84,2% BN có dấu hiệu loạn năng ở mức độ nhẹ - trung bình theo chỉ số loạn năng lâm sàng Helkimo. Biểu hiện thường gặp là giảm biên độ vận động hàm kèm đau ở khớp khi vận động. Trên hình ảnh cắt lớp vi tính, lồi cầu (LC) bên PT có xu hướng di chuyển ra trước - xuống dưới. Kết luận: Tái tạo khuyết hổng XHD bằng nẹp có liên quan đến tình trạng loạn năng hàm dưới ở mức độ nhẹ đến trung bình.