CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Phẫu thuật
1 Phối hợp phong bế đa thần kinh ngoại vi với gây mê mask thanh quản cho bệnh nhân phẫu thuật thay khớp háng nguy cơ rất cao: Báo cáo ca lâm sàng / Hoàng Văn Tuấn, Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Duy Thanh, Hồ Sỹ Hải, Nguyễn Phương Quỳnh, Nguyễn Văn Hoàng // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 927-934 .- 610
Thay khớp háng ở bệnh nhân tăng áp động mạch phổi nặng, suy tim và bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ là thách thức gây lớn do nguy cơ tử vong cao cả khi gây mê toàn thân hoặc tê tủy sống. Chúng tôi báo cáo bệnh nhân nam 64 tuổi, 50 kg, ASA IV, gãy cổ xương đùi phải, phân số tống máu thất trái 31%, phân số thay đổi diện tích thất phải 28%, áp lực động mạch phổi tâm thu 79 mmHg, bệnh thận mạn lọc máu chu kỳ. Mổ thay khớp háng toàn bộ đường sau-bên. Chiến lược vô cảm tránh hoàn toàn tê trục thần kinh; thay bằng phối hợp bốn phong bế thần kinh ngoại biên dưới siêu âm (thần kinh đùi, bịt nhánh trước và sau, bì đùi ngoài, mặt phẳng cơ dựng sống cùng) bằng 110mg ropivacaine 0,25% pha dexamethasone, kết hợp mê toàn thân mask thanh quản theo BIS, noradrenaline dự phòng và sugammadex. Huyết động ổn định, hậu phẫu tỉnh tốt, VAS 1/10 trong 12 giờ, không cần opioid bổ sung. Đây là chiến lược vô cảm khả thi và an toàn cho bệnh nhân nguy cơ cao.
2 Đánh giá kết quả phẫu thuật ung thư thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất từ 2022 – 2025 / Trương Hoàng Việt, Phan Thị Ngọc Linh, Hoàng Văn Phước, Trần Minh Trường, Nguyễn Lê Vĩnh Thuận // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 433-439 .- 610
Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị ung thư thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất từ tháng 6/2022 đến tháng 6/2025. Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca trên 22 người bệnh ung thư thanh quản (100% nam, tuổi trung bình 62,5 ± 8) được phẫu thuật cắt thanh quản bán phần hoặc toàn phần. Kết quả cho thấy 100% người bệnh có triệu chứng khàn tiếng, 100% tổn thương xuất phát từ thanh môn, 100% carcinoma tế bào gai biệt hóa cao. Phẫu thuật cắt thanh quản bán phần chiếm 68,2%, cắt toàn phần chiếm 31,8%. Bờ cắt âm tính đạt 100%. Tỷ lệ biến chứng sau mổ là 31,8%. Tỷ lệ sống còn toàn bộ đạt 95,4%. Kết quả cho thấy phẫu thuật cắt thanh quản tại Bệnh viện Thống Nhất đạt hiệu quả, tương đương các trung tâm chuyên khoa trong và ngoài nước.
3 Đánh giá kết quả phẫu thuật cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn potsic III / Nguyễn Viết Thanh Tùng, Phạm Trần Anh, Nguyễn Đức Hưng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 30 - 34 .- 610
Đánh giá kết quả phẫu thuật cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn Potsic III. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả loạt ca bệnh. Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện tai mũi họng trung ương, thời gian nghiên cứu từ năm 2017 tới năm 2025. Bệnh nhân nghiên cứu: 38 bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu: Qua nghiên cứu 38 trường hợp cholesteatoma bẩm sinh giai đoạn Potsic III được phẫu thuật, bước đầu chúng tôi rút ra một số kết luận như sau: bệnh nhân trung bình 5,5±3,6 tuổi; Tất cả bệnh nhân được theo dõi ít nhất 6 tháng cho thấy màng nhĩ liền kín trong 36 trường hợp, tỷ lệ cải thiện sức nghe là 28 trường hợp. Có 26 ca không có tồn dư cholesteatoma sau phẫu thuật lần 1, 12 ca tồn dư sau lần thứ 1 và 2 ca trải qua phẫu thuật lần 3 để loại bỏ bệnh tích; chưa phát hiện trường hợp nào xảy ra tai biến trong và sau phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật trên bệnh nhân cholesteatoma bẩm sinh tai giữa giai đoạn Potsic III là an toàn, đem lại kết quả tốt, giúp loại bỏ bệnh tích và cải thiện sức nghe cho bệnh nhân, tỷ lệ tai biến thấp, nhưng tỷ lệ tái phát còn cao.
4 Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức / Nguyễn Khắc Đông, Dương Trọng Hiền, Nguyễn Hoàng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 38 - 42 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả sớm phẫu thuật u mô đệm dạ dày tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 48 bệnh nhân được chẩn đoán GIST dạ dày và được phẫu thuật cắt u tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2023. Dữ liệu thu thập hồ sơ từ bệnh án, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0. Kết quả: Độ tuổi trung bình 56,0 ± 15,2. Tỉ lệ nam/nữ là 1,09/1. Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng vùng thượng vị (56,3%), khối u kích thước dao động từ 10 đến 285 mm, chủ yếu là u tế bào hình thoi với 47/48 trường hợp chiếm 97,9%, 22 bệnh nhân (45.8%) được thực hiện bằng phẫu thuật nội soi, 26 bệnh nhân (54,2%) trường hợp được mổ mở, cắt hình chêm là phương án được áp dụng chủ yếu (81,3%), thời gian mổ trung bình là 116,1±54,7 phút, thời gian hậu phẫu trung bình 7,1±2,1 ngày. Kết luận: Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị chủ yếu cho GIST dạ dày. Chẩn đoán cần kết hợp lâm sàng, hình ảnh học và mô bệnh học. Lựa chọn phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào cơ sở y tế và thói quen phẫu thuật viên.
5 Hiệu quả giảm đau sau mổ của phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám trong phẫu thuật cắt phổi có nội soi hỗ trợ / Phạm Việt Anh, Nguyễn Quốc Kính // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 113 - 117 .- 610
Đánh giá hiệu quả giảm đau sau mổ cắt phổi có nội soi hỗ trợ bằng phương pháp phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám với Levobupivacain 0,25% 20ml. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng được thực hiện trên 60 bệnh nhân có chỉ định cắt thùy phổi/phân thùy phổi có nội soi hỗ trợ từ tháng 12/2024 đến 7/2025 tại Bệnh viện K. Bệnh nhân được chia thành hai nhóm: nhóm 1 (có phong bế RIPB và sử dụng IV-PCA) và nhóm 2 (IV-PCA đơn thuần). Các chỉ số theo dõi gồm VAS khi nghỉ, vận động, ho và nhu cầu sử dụng morphin sau phẫu thuật. Kết quả: Hiệu quả giảm đau ở Nhóm 1 tốt hơn đáng kể: Điểm VAS ở Nhóm 1 thấp hơn có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các thời điểm đánh giá khi nghỉ, vận động và ho (p < 0.05). Tổng liều morphin tiêu thụ Nhóm 1 sau phẫu thuật thấp hơn đáng kể trong 24 giờ (4.0 ± 2.4 mg vs 23.7 ± 9.2 mg, p < 0.001) và 48 giờ (13.6 ± 3.8 mg vs 36.8 ± 11.7 mg, p < 0.001). Thời gian đến khi cần liều morphin cứu hộ đầu tiên ở Nhóm 1 lâu hơn rất nhiều (12.2 ± 5.5 giờ vs 0.3 ± 0.2 giờ, p < 0.001). Kết luận: Phong bế mặt phẳng giữa cơ liên sườn và cơ trám là một kỹ thuật giảm đau hiệu quả và an toàn cho bệnh nhân cắt phổi có nội soi hỗ trợ. Kỹ thuật này giúp giảm đáng kể mức tiêu thụ morphin, cải thiện chất lượng giảm đau và an toàn, ít tác dụng phụ. Phương pháp này đem tới cho các bác sĩ gây mê một lựa chọn bổ sung trong giảm đau đa mô thức chu phẫu.
6 Khảo sát trình trạng dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp trên CT scan ứng dụng trong phẫu thuật điều trị xốp xơ tai / Lê Quang, Huỳnh Lê Hoàng Kim, Dương Thanh Hồng, Nguyễn Thanh Tùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 280 - 284 .- 610
Xốp xơ tai là bệnh lý do rối loạn chuyển hóa xương mê nhĩ, gây cố định xương bàn đạp và dẫn đến giảm thính lực, với điều trị chủ yếu là phẫu thuật thay thế xương bàn đạp. Một trong những biến chứng quan trọng là liệt mặt do nguy cơ thần kinh mặt nằm bất thường, và có thể được phát hiện trước mổ nhờ chụp CT scan xương thái dương. Mục tiêu: Xác định tỉ lệ và đặc điểm hình ảnh học của tình trạng dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp trên CT scan xương thái dương. Phương pháp: nghiên cứu mô tả thực hiện trên 70 bệnh nhân được phẫu thuật điều trị xốp xơ tai tại bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian khảo sát. Kết quả: Trong 70 tai được phẫu thuật, có 17 trường hợp (24,3%) dây thần kinh mặt che khuất một phần đế xương bàn đạp. Các chỉ số đo khoảng cách từ dây thần kinh mặt đến cành trước (dAC), chỏm (dS) và cành sau xương bàn đạp (dPC) ở nhóm có che khuất đều nhỏ hơn có ý nghĩa so với nhóm không che khuất (p < 0,05). Trong phân tích hồi quy logistic, dPC là yếu tố dự báo mạnh nhất tình trạng che khuất, với AUC = 0,834, độ nhạy 76,5% và độ đặc hiệu 83,0%. Không ghi nhận trường hợp nào liệt mặt sau mổ. Kết luận: Dây thần kinh mặt che khuất đế xương bàn đạp là yếu tố giải phẫu quan trọng trong phẫu thuật xốp xơ tai. Khoảng cách dPC là chỉ số dự báo đáng tin cậy trên CT Scan, giúp phẫu thuật viên nhận diện trước phẫu thuật và giảm nguy cơ biến chứng.
7 Vai trò của siêu âm tim qua thành ngực trong đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật TOF tại Bệnh viện Đà Nẵng / Hồ Xuân Tuấn, Nguyễn Ngọc Vĩnh Hân // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 226 - 229 .- 610
Phẫu thuật sửa chữa triệt để là phương pháp điều trị tiêu chuẩn trong TOF. Trong đó, siêu âm tim qua thành ngực là phương tiện đầu tay với ưu điểm không xâm lấn, chi phí thấp, kết quả tin cậy, giúp chẩn đoán chính xác, hỗ trợ lên kế hoạch điều trị và đánh giá kết quả sau PT.TOF. Mục tiêu: Xác định vai trò của siêu âm tim qua thành ngực trong đánh giá kết quả điều trị PT bệnh nhân TOF. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi cứu có phân tích trên 51 hồ sơ bệnh án của bệnh nhân TOF được PT tại Bệnh viện Đà Nẵng từ năm 2011 đến năm 2022. Kết quả: Về đặc điểm chung, tỷ lệ nữ giới có xu thế cao hơn so với nam giới (56,9% so với 43,1%). Tuổi trung vị là 1,67, phần lớn tập trung ở nhóm 1-5 tuổi (56,9%), kế đến là <1 tuổi với 27,5%. Cân nặng trung vị là 9,0 kg. Sau PT, có sự cải thiện sớm và đáng kể chênh áp qua van ĐMP so với trước điều trị với khác biệt trung bình là 55,64 ± 20,96 mmHg (p<0,001). Sự khác biệt về phân suất tống máu thất trái (EF) trước và sau PT không có ý nghĩa thống kê (p=0,824). Biến chứng thường gặp sau PT TOF là vận động nghịch thường vách liên thất (31,4%), tiếp theo là hẹp ĐMP tồn lưu và shunt tồn lưu thông liên thất cùng chiếm 23,5%. Kết luận: Siêu âm tim qua thành ngực có vai trò quan trọng đánh giá kết quả PT và theo dõi phát hiện các biến chứng sớm sau mổ ở bệnh nhân TOF, góp phần chỉ định can thiệp sớm và cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.
8 Điều trị u tế bào mầm vùng cùng cụt bằng phương pháp phẫu thuật tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 / Hồ Trần Bản, Nguyễn Thị Mỹ Linh, Mai Hoàng Vĩnh Kha, Chu Khánh An, Võ Kim Kha, Trần Quang Minh, Tống Thị Mai Quỳnh, Võ Thị Cẩm Quỳnh, Trần Võ Đức Tân, Lê Sĩ Phong, Vũ Trường Nhân, Huỳnh Thị Vũ Quỳnh // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 221 - 225 .- 610
Đánh giá kết quả điều trị u tế bào mầm vùng cùng cụt bằng phương pháp phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả hàng loạt ca ở tất cả bệnh nhi dưới 16 tuổi được chẩn đoán UTBM vùng cùng cụt và được phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/01/2018 đến 31/12/2024. Kết quả: Từ 34 bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu, tất cả bệnh nhi được cắt trọn u và một phần xương cụt, chủ yếu qua đường ngã dọc sau (91,2%). Vỡ u là biến chứng phẫu thuật thường gặp (23,5%). 2 (5,9%) trường hợp được sinh thiết hạch. Biến chứng nhiễm trùng vết mổ chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 9 (26,5%) trường hợp, trong khi 67,6% bệnh nhi không có biến chứng. 1 (2,9%) trường hợp phẫu thuật lần 2 do u tái phát. U giai đoạn I và nguy cơ thấp chiếm 94,1%. 5 (14,7%) bệnh nhi được phẫu thuật kèm hóa trị. Các bệnh nhi phẫu thuật đơn thuần đều đáp ứng hoàn toàn. Nghiên cứu có 1 ca tái phát (2,9%) và không có trường hợp nào tử vong. Kết luận: Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính với tỷ lệ biến chứng và tái phát thấp.
9 Tái tạo lóc toàn bộ da đầu lộ xương sọ bằng vạt da cơ thang mở rộng xuống dưới và ghép da mỏng / Lưu Phương Lan, Phạm Ngọc Minh, Lê Kim Nhã // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 281 - 285 .- 610
Lóc toàn bộ da đầu là 1 tổn thương nặng nề có thể gặp phải do tai nạn lao động, đặc biệt ở Việt Nam khi bảo hộ an toàn lao động chưa được chú trọng. Đã có nhiều tác giả tại Việt Nam báo cáo phẫu thuật vi phẫu nối thành công mảng da đầu đứt rời đem lại hiệu quả về cả chức năng và thẩm mỹ. Tại Bệnh viện TWQĐ 108, chúng tôi báo cáo trường hợp không thể mang phần da đầu đứt rời đến Bệnh Viện, bệnh nhân với vết thương lóc toàn bộ da đầu từ mi trên tới vùng chẩm, lộ xương sọ vùng chẩm, đỉnh. Chúng tôi đã che phủ toàn bộ da đầu thành công với việc sử dụng vạt da cơ thang mở rộng xuống dưới để che phủ toàn bộ vùng lộ xương chẩm đỉnh và ghép da mỏng cho các diện khuyết còn lại.
10 Đánh giá kết quả thay khớp háng với kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền tại Bệnh viện Quân Y 121 / Trần Mạnh Hùng // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 369 - 373 .- 610
Đánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp háng sử dụng kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền tại Bệnh viện Quân y 121. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc trên 71 bệnh nhân (75 khớp háng) được thay khớp háng toàn phần hoặc bán phần từ 3/2020 đến 3/2022. Kết quả phục hồi được đánh giá theo thang điểm Harris tại các thời điểm sau mổ 1, 3 và 6 tháng; đồng thời ghi nhận các biến chứng trong và sau mổ. Kết quả: Tuổi trung bình trên 60 chiếm 45,1%, tỷ lệ nam:nữ gần tương đương. Nguyên nhân chủ yếu là gãy cổ xương đùi (45,3%) và hoại tử chỏm xương đùi (32%). Kết quả sau mổ đạt mức tốt và rất tốt ở 88% khớp, khá 9,3%, trung bình 2,7%. Tỷ lệ trật khớp sau mổ thấp (1,3%), lệch chi <1 cm chiếm đa số (57,1%). Các biến chứng khác gồm huyết khối tĩnh mạch sâu 5,33%, tổn thương thần kinh khoeo ngoài 2,67% và nhiễm khuẩn nông 1,3%. Kết luận: Kỹ thuật khâu tăng cường bao khớp bằng chỉ siêu bền giúp cải thiện rõ rệt chức năng vận động, giảm đau và hạn chế biến chứng sớm sau mổ.





