CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Nha khoa

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá độ dày xương và mô mềm khẩu cái trên phim CBCT (Cone-Beam Computed Tomography) / Trần Nguyên Minh, Bùi Quang Hưng, Nguyễn Vũ Thái Liên, Nguyễn Thị Thu Hương // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 26-32 .- 610

Nghiên cứu nhằm đánh giá độ dày xương và mô mềm khẩu cái theo vị trí giải phẫu trên CBCT. Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 50 phim CBCT của các bệnh nhân (BN) có độ tuổi từ 18 – 50 tuổi. Độ dày xương và mô mềm được đo tại 32 vị trí theo hệ lưới chuẩn hóa. Số liệu trình bày dưới dạng trung vị (Q1–Q3) và so sánh bằng kiểm định Friedman.

2 Đánh giá độ sát khít của onlay được chế tạo bằng công nghệ CAD/CAM và in 3D trên thực nghiệm / Nghiêm Tuấn Anh, Tống Minh Sơn, Phạm Thái Thông, Võ Trương Như Ngọc, Nguyễn Thu Trà, Võ Nhật Minh, Trịnh Khánh Linh, Lâm Khánh Duy, Trần Lê Quỳnh Phương, Phan Thành Lợi, Phạm Ngọc Tú // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 42-49 .- 610

Mức độ sát khít của phục hình so với xoang sửa soạn là một trong những tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá hiệu quả điều trị và tiên lượng chức năng lâu dài. Nghiên cứu in-vitro được thực hiện nhằm đánh giá độ sát khít của phục hình onlay được chế tạo bằng công nghệ in 3D và CAD/CAM, khảo sát độ sát khít tại 100 điểm đánh dấu ở nội phần và đường hoàn tất bằng phương pháp chồng hình kỹ thuật số (RPM) và sao chép silicone kỹ thuật số (SRG).

3 Đặc điểm khớp cắn trên hệ thống T-Scan Novus ở nhóm sinh viên có dấu hiệu nghiến răng / Đinh Quang Chiến, Chử Tiến Mạnh, Nguyễn Thị Châu, Phạm Thùy Linh, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Vũ Thị Quỳnh Hà, Hoàng Thị Thu Trang, Tạ Thị Tươi, Đinh Thị Minh Thúy, Nguyễn Ngọc Anh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 173-181 .- 610

Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 45 sinh viên lớp Y2RHM và Y3RHM tại Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024 nhằm mô tả đặc điểm khớp cắn ở nhóm có dấu hiệu nghiến răng bằng hệ thống T-Scan Novus. Tỷ lệ sinh viên nam chiếm 42,2% và nữ chiếm 57,8%. Ở nhóm nghiến răng khi thức, hình thức siết chặt răng chiếm 68,4%; ở nhóm nghiến răng khi ngủ, cọ xát răng chiếm 96,0% và siết chặt răng chiếm 4,0%. Tại vị trí lồng múi tối đa, lực cắn phân bố chủ yếu ở vùng răng sau, trong đó trung vị lực cắn vùng răng hàm lớn hàm dưới và hàm trên lần lượt đạt 37,75% và 34,15%, trong khi vùng răng trước có giá trị thấp nhất. Răng hàm lớn thứ hai là răng được ghi nhận chịu lực cắn mạnh nhất ở tỷ lệ cao nhất (60,0% số trường hợp), tiếp theo là răng hàm lớn thứ nhất (35,56%) và răng hàm lớn thứ ba (4,44%). Thời gian ăn khớp trung bình là 0,93 ± 0,34 giây và thời gian nhả khớp trung bình là 0,78 giây.

4 Mức độ hợp tác ban đầu và kết quả quản lý hành vi không dùng thuốc trong điều trị nha khoa ở trẻ 3 – 6 tuổi / Phạm Quốc Khánh, Võ Trương Như Ngọc, Trịnh Đỗ Vân Ngà, Đỗ Văn Cẩn, Nguyễn Thị Phương Hoa, Phạm Phúc Khánh, Trần Nguyên Hạnh // .- 2026 .- Tập 203 - Số 6 .- Tr. 413-422 .- 610

Nghiên cứu đánh giá tình trạng bệnh lý, mức độ hợp tác ban đầu và hiệu quả quản lý hành vi không dùng thuốc trong điều trị nha khoa ở trẻ 3 – 6 tuổi tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Thiết kế tiến cứu mô tả trên 211 trẻ. Mức độ hợp tác ban đầu được đánh giá bằng thang Frankl, hành vi trong điều trị theo thang Houpt.

5 Độ chính xác của dấu kỹ thuật số ống tuỷ mang chốt ở các chiều dài khác nhau - nghiên cứu in-vitro / Huỳnh Công Nhật Nam, Vũ Thế Dương, Ngô Hà An, Nguyễn Hoàng Lâm, Trần Chí Nguyên, Lê Đức Thịnh // .- 2025 .- Tập 189 - Số 4 .- Tr. 82-89 .- 610

Nghiên cứu này đánh giá độ chính xác (gồm độ đúng và độ chụm) của dấu kỹ thuật số của máy quét trong miệng (IOS) trong việc lấy dấu ống tuỷ mang chốt ở các chiều dài khác nhau. Thử nghiệm in-vitro được thực hiện trên 3 mô hình ống tuỷ mang chốt được thiết kế và in 3D với các độ sâu lần lượt là 8, 9 và 10mm. Các mẫu răng sẽ được quét bằng IOS Trios 3 và so sánh với bản tham chiếu là mẫu thiết kế 3D. Hình ảnh từ máy quét được chồng hình và tính toán độ sai biệt so với hình ảnh tham chiếu tại 3 vị trí (1/3 cổ, 1/3 giữa và 1/3 chóp) tương ứng với 3 độ sâu khác nhau của ống tuỷ mang chốt. Độ chính xác của hình ảnh từ IOS giảm dần theo chiều dài ống tuỷ mang chốt. Mô hình ống tuỷ mang chốt với chiều dài 8mm có độ đúng cao nhất ở cả 3 phần của ống tuỷ mang chốt, trong khi đó mô hình ống tuỷ mang chốt có chiều dài 9mm và 10mm giảm dần độ chính xác ở phần ba chóp có ý nghĩa thống kê. Khảo sát độ chụm giữa các mẫu quét cho thấy không có sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê ở chiều dài 8, 9mm, tuy nhiên tại 1/3 chóp ở nhóm 10mm có độ chụm sai lệch với những nhóm còn lại. Chiều dài ống tuỷ mang chốt ảnh hưởng đến độ chính xác của máy quét Trios 3, gây nguy cơ giảm độ khít sát của chốt chân răng thực hiện bằng phương pháp CAD/CAM và ống tuỷ mang chốt 8mm là chiều dài ống tuỷ mang chốt khuyến nghị tối đa để đảm bảo độ chính xác của dữ liệu quét.

6 Liên quan giữa hình thái mọc và các biến chứng của răng khôn hàm dưới trên người bệnh tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông / Lưu Văn Tường, Cao Đoàn Duy, Nguyễn Thị Hạnh, Trương Đình Khởi, Dương Đức Long, Phạm Lê Hương Linh, Nguyễn Thị Minh Huyền, Đinh Diệu Hồng // .- 2025 .- Tập 188 - Số 3 .- Tr. 10-17 .- 617.6

Nghiên cứu được đánh giá ở 65 người bệnh đến khám tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông với 115 răng khôn hàm dưới nhằm xác định mối liên quan giữa hình thái mọc của răng khôn hàm dưới (RKHD) với các biến chứng trên lâm sàng và X-quang.

7 Độ bền kháng gãy của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên đã điều trị nội nha được phục hồi bằng composite và chốt sợi / Nguyễn Thị Minh Huyền, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Hưng, Lưu Minh Quang, Đinh Diệu Hồng // .- 2025 .- Tập 188 - Số 3 .- Tr. 18-24 .- 617

Nghiên cứu so sánh độ bền kháng gãy và khảo sát kiểu nứt gãy của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên đã điều trị nội nha, phục hồi bằng composite và chốt sợi ở các nhóm khác nhau. Nghiên cứu in vitro trên 20 răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên (2 ống tủy) nhổ vì lý do chỉnh nha ở người dưới 30 tuổi và được chia thành 4 nhóm (n = 5): nhóm 1 còn đủ thành và nhóm 2 mất một thành được phục hồi bằng composite; nhóm 3 mất hai thành và nhóm 4 không còn thành, được phục hồi bằng composite và chốt sợi. Mẫu được đo lực nén đến khi nứt gãy, ghi nhận lực tối đa và kiểu nứt. Phân tích với kiểm định ANOVA trên SPSS 25 cho thấy giá trị lực nén của nhóm 1, 2, 3 tương đương nhau và cao nhất ở nhóm 4 (2272,88 N) (p = 0,003). Mức độ nghiêm trọng nứt gãy tăng khi số lượng thành còn lại của răng giảm. Các vết nứt gãy chủ yếu dọc theo phần tiếp xúc giữa chốt và composite hoặc giữa composite với cấu trúc còn lại thân răng.

8 Nhu cầu đào tạo nha khoa kỹ thuật số của bác sĩ răng hàm mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Hồ Quỳnh Anh, Trần Minh Huy, Bùi Vinh Quang, Phan Thị Thuỳ Trang, Trần Thiện Trường, Huỳnh Công Nhật Nam // .- 2025 .- Tập 187 - Số 6 .- Tr. 242-250 .- 617.6

Nghiên cứu này nhằm khảo sát nhu cầu đào tạo nha khoa kỹ thuật số trong thực hành phục hình răng của bác sĩ Răng Hàm Mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ 6/2023 đến 2/2024, khảo sát 120 bác sĩ Răng Hàm Mặt làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng phiếu khảo sát trực tuyến gồm tình hình sử dụng, kiến thức, nhu cầu đào tạo nha khoa kỹ thuật số.

9 Sự hài lòng của phụ huynh có con từ 4 - 8 tuổi được điều trị phục hồi thân răng cối sữa bằng chụp Bioflx tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành phố Hồ Chí Minh / Bùi Trung Tín, Trần Duy Quân, Nguyễn Thị Mai Phương, Võ Trương Như Ngọc // .- 2025 .- Tập 186 - Số 1 .- Tr. 169-176 .- 617.6

Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 17 phụ huynh có con từ 4 - 8 tuổi được điều trị phục hồi thân răng cối sữa bằng chụp Bioflx tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 10/2023 đến tháng 6/2024. Tuổi trung bình của người tham gia nghiên cứu là 33,2 ± 4,8 tuổi và giới tính đa số là nữ (chiếm 70,6%). Đo lường sự hài lòng của phụ huynh với quá trình điều trị cho con của họ thông qua bộ câu hỏi đánh giá hài lòng nha khoa DSQ phiên bản tiếng Việt với 4 khía cạnh bao gồm “sự thuận tiện của quá trình điều trị”, “chất lượng điều trị”, “kiểm soát đau cho trẻ” và “chi phí điều trị”.