CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Nha khoa

  • Duyệt theo:
21 Đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả che tuỷ gián tiếp bằng biodentine trên răng vĩnh viễn có viêm tuỷ hồi phục tại bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2018-2019 / Nguyễn Ngọc Nguyệt Minh, Biện Thị Bích Ngân, Nguyễn Trung Kiên // .- 2019 .- Số 19 .- Tr. 1 - 7 .- 610

Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các răng vĩnh viễn bị viêm tuỷ có hồi phục được chỉ định che tuỷ gián tiếp bằng Biodentine tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2018 - 2019. Đánh giá kết quả điều trị che tuỷ gián tiếp bằng Biodentine trên răng vĩnh viễn bị viêm tuỷ có hồi phục tại Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Cần Thơ năm 2018 - 2019 sau 1 tháng, sau 3 tháng và sau 6 tháng.

22 Can thiệp sớm sai khớp cắn hạng II và lệch hàm do cắn kéo răng cối lớn một bên / Vũ Mỹ Linh // .- 2017 .- Số 7 .- Tr. 10 - 16 .- 610

Can thiệp sớm vẫn còn là vấn đề gây bàn cãi rất nhiều trong chỉnh hình răng mặt. Tuy nhiên, khi những lệch lạc về răng có khả năng gây ảnh hưởng đến sự phát triển xương hàm cần được can thiệp sớm để tránh các hậu quả nặng nề về thẩm mỹ và chức năng, cũng như giúp đơn giản hóa công việc điều trị chỉnh nha.Ca lâm sàng bên dưới là một trường hợp cắn kéo răng cối một bên có nguy cơ lệch mặt đã được điều trị kịp thời, sử dụng các khí cụ Bioprogressive.

23 Khoảng leeway và ứng dụng trong chỉnh hình can thiệp sớm / Trần Thị Bích Vân // .- 2017 .- Số 7 .- Tr. 5 - 9 .- 610

Chen chúc răng là nguyên nhân thường gặp nhất khi đến khám để điều trị chỉnh hình răng mặt. Trong chỉnh hình can thiệp sớm tình trạng chen chúc, khoảng leeway là yếu tố có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Theo nhiều tác giả, việc giữ khoảng leeway giúp có thể giải quyết được đa số trường hợp có tình trạng chen chúc răng từ nhẹ đến trung bình (≤5mm) mà không cần phải nhổ răng, mài răng vĩnh viễn hoặc làm răng cửa nghiêng ra trước trong điều trị chỉnh hình toàn diện sau này. Để giữ khoảng leeway, có thể không dùng khí cụ như phương pháp mài răng sữa có hướng dẫn hoặc sử dụng những khí cụ rất đơn giản như bộ giữ khoảng, cung lưỡi, cung ngang khẩu cái, cung Nance… tùy trường hợp lâm sàng cụ thể.

24 Điều trị sai khớp cắn hạng II không nhổ răng ở bệnh nhân đang tăng trưởng theo phương pháp Bioprogressive / Phạm Duy Tân // .- 2017 .- Số 7 .- Tr. 26 - 33 .- 610

Sai khớp cắn hạng II là dạng sai khớp cắn rất thường gặp ở bệnh nhân còn đang tăng trưởng, có thể hàm trên nhô ra trước, hoặc hàm dưới lùi ra sau, hoặc kết hợp cả hai. Nguyên nhân gây ra sai khớp cắn hạng II có thể liên quan đến yếu tố di truyền, ảnh hưởng của môi trường hoặc bệnh lý. Bài viết này sẽ trình bày một trường hợp sai khớp cắn hạng II do hàm dưới lùi, ở trẻ còn đang tăng trưởng, được điều trị theo phương pháp Bioprogressive của Ricketts.

25 Điều trị hạng III xương sớm trên bệnh nhân mặt ngắn / Đỗ Quỳnh Như // .- 2017 .- Số 7 .- Tr. 35 - 40 .- 610

Tình trạng hạng III xương đi kèm cắn ngược vùng răng cửa thường là một kiểu hình sai khớp cắn thách thức cho các bác sĩ thực hành lâm sàng chỉnh nha. Ca lâm sàng mô tả những thay đổi của xương và răng trong điều trị sai khớp cắn hạng III, được điều trị bù trừ cho bệnh nhân 11 tuổi 3 tháng. Khí cụ cố định, bao gồm cung tiện ích biến thể, cung tiện ích hình chữ J và thun hạng III được sử dụng để điều trị sớm. Quá trình chỉnh hình toàn diện được tiếp tục sau khi răng vĩnh viễn mọc lên hoàn tất. Kết quả điều trị đạt được mục tiêu về thẩm mỹ và chức năng, với độ cắn phủ và cắn chìa phù hợp, và duy trì sự vững ổn 3 năm sau khi kết thúc điều trị. Phân tích dữ liệu và chẩn đoán toàn diện theo quan điểm sinh học tiến triển đã giúp đưa ra chọn lựa điều trị đúng đắn ngay cả trên đối tượng bệnh nhân đang tăng trưởng đem đến kết quả hài lòng và sự ổn định theo thời gian.

26 Bước đầu sử dụng mô hình nuôi cấy tế bào để đánh giá độc tính tế bào của xi măng nha khoa / Trần Xuân Vĩnh // .- 2018 .- Số 2 .- Tr. 12 - 16 .- 610

Nghiên cứu thực hiện nhằm đánh giá độc tính lên tế bào gốc trung mô tủy xương người (hBMSCs) của xi măng BiodentineTM bằng phương pháp nuôi cấy tế bào với dịch chiết vật liệu.

27 Kết quả điều trị nội nha sau 6 tháng ở những răng bị chấn thương / Lê Long Nghĩa // .- 2017 .- Số 5 .- Tr. 108-111 .- 610

Đánh giá kết quả điều trị nội nha sau 6 tháng ở những răng bị rạn, nứt trên 28 bệnh nhân tại Bệnh viện Đai học Y Hà Nội. Kết quả cho thấy tỷ lệ điều trị thành công theo các tình huống bệnh lý và tính chất nứt gãy đạt từ 81,3% cho đến 100%. Tỷ lệ điều trị thành công tại mốc sau 6 tháng là 89,3%.

28 Đánh giá kết quả cấy ghép nha khoa vùng răng sau hàm trên có nâng xoang sử dụng xương đồng loại đông khô khử khoáng VB KC - 09.02 / Trương Uyên Cường, Lê Hưng, Nguyễn Điện Biên // .- 2016 .- Số 5 .- Tr. 73-79 .- 610

Đánh giá kết quả cấy ghép nha khoa vùng răng sau hàm trên có nâng xoang sử dụng xương đồng loại đông khô khử khoáng VB KC - 09.02 trên 21 bệnh nhân với 44 implant điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 từ 3/2013 đến 6/2015. Kết quả cho thấy chiều cao xương có ích hàm trên chủ yếu dưới 5mm là 26/44 trường hợp. Chiều rộng xương có ích hàm trên chủ yếu từ 6-9mm là 41/44 trường hợp. Chiều dài và đường kính implant sử dụng nhiều nhất là 9,5mm và 4,5mm. Tỷ lệ thành công đạt 97,7% ngay sau phục hình và 100% đạt tốt và khá sau 12 tháng.

29 Đánh giá kết quả cấy implant nha khoa có ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng VB KC - 09.02 / Trương Uyên Cường, Nguyễn Khang, Lê Hưng // .- 2017 .- Số 4 .- Tr. 115-121 .- 610

Đánh giá kết quả cấy implant nha khoa có ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng VB KC - 09.02 trên 51 bệnh nhân với 137 implant có ghép xương đồng loại đông khô khử khoáng VB KC - 09.02. Kết quả cho thấy mức độ ổn định sơ khởi ngay sau phẫu thuật chủ yếu trong khoảng 30 - 50N/cm2 Ià 55,5%. 100% bệnh nhân đau sau phẫu thuật. Tỷ lệ thành công trong nghiên cứu là 97,8%. Mức độ tiêu xương trung bình trước phục hình là 0,596 ± 0,126mm. Kết quả phục hồi chức năng tốt tăng dần từ 74,4 -84,6%. Kết quả phục hồi thẩm mỹ giảm dần từ 73,6 - 63,1%. Tỷ lệ viêm quanh implant dao động từ 8,8 đến 25,6%.

30 Đánh giá sự hợp tác của bệnh nhân giữa phương pháp an thần do bệnh nhân tự điều khiển sử dụng midazolam với gây tê đơn thuần trong thủ thuật nha khoa / Nguyễn Thùy Linh, Nguyễn Quang Bình // .- 2017 .- Số 1 .- Tr. 234-237 .- 610

Đánh giá sự hợp tác của 70 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật răng khôn giữa phương pháp phương pháp an thần do bệnh nhân tự điều khiển sử dụng midazolam với gây tê đơn thuần trong thủ thuật nha khoa. Kết quả cho thấy phương pháp an thần do bệnh nhân tự điều khiển bằng midazolam kết hợp với gây tê tại chỗ lidocain 2 phần trăm có mức độ khó và thời gian phẫu thuật như nhau nhưng có sự hợp tác tốt hơn với phẫu thuật, ít cử động hơn, bệnh nhân và phẫu thuật viên hài lòng hơn so với phương pháp chỉ gây tê đơn thuần trong phẫu thuật răng khôn hàm dưới.