CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Tiếng Việt

  • Duyệt theo:
21 Đối chiếu nguyên âm tiếng Italia và nguyên âm tiếng Việt / Doãn Phương Linh // .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 3-13 .- 400

Bài viết là kết quả nghiên cứu đối chiếu nguyên âm tiếng Italia và nguyên âm tiếng Việt. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là đối chiếu ngữ âm – âm vị học từ các nguồn tài liệu là sách, giáo trình, luận văn, luận án viết bằng tiếng Italia và tiếng Việt. Nghiên cứu được thực hiện với mục đích giúp người học tiếng Italia nói riêng và những người quan tâm tới lĩnh vực ngữ âm – âm vị học nói chung hình dung được một cách rõ ràng những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai hệ thống nguyên âm này. Kết quả của bài viết là tài liệu tham khảo dạy tiếng Italia cho sinh viên Việt Nam. Đồng thời kết quả bài viết bước đầu giúp thiết kế phương pháp giảng dạy, biên soạn giáo trình, bài giảng phát âm phù hợp cho người Việt học tiếng Italia.

22 Các quy tắc ràng buộc trong câu tiếng Việt: Phân tích liên lí thuyết về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng / Lý Ngọc Toàn // .- 2025 .- Số 5 .- Tr. 34-42 .- 400

Nghiên cứu này phân tích ba loại ràng buộc trong cấu trúc câu tiếng Việt, bao gồm ràng buộc cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng, trên cơ sở vận dụng tổng hợp giữa ngữ pháp kết cấu, ngữ pháp tri nhận và lý thuyết ràng buộc. Dựa trên khung lý thuyết của ngữ pháp kết cấu và ngữ pháp tri nhận, nghiên cứu tập trung phân tích 05 hiện tượng trong cấu trúc cú pháp tiếng Việt, gồm: cấu trúc chuyển tác, cấu trúc tham tố, mệnh đề phụ thuộc, chuỗi động từ và bổ ngữ bất định. Các ràng buộc cú pháp trong tiếng Việt thể hiện qua những hiện tượng như chuỗi động từ, mệnh đề phụ thuộc và bổ ngữ bất định; ràng buộc ngữ nghĩa phản ánh sự kết hợp logic giữa các thành phần như chủ ngữ – vị ngữ, động từ – bổ ngữ và động từ – trạng từ; ràng buộc ngữ dụng liên quan đến yếu tố ngữ cảnh giao tiếp, hiện tượng lược bỏ (khoảng trống cú pháp) và cách tổ chức thông tin trong diễn ngôn. Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình, không có hệ thống hình thái đánh dấu vai trò ngữ pháp, nhưng vẫn tồn tại các ràng buộc về cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng điều phối cách tổ chức và vận hành của các thành phần trong câu. Nghiên cứu góp phần hoàn thiện mô hình phân tích cú pháp tiếng Việt theo hướng tích hợp giữa hình thức cú pháp, điều kiện ngữ nghĩa và yêu cầu ngữ dụng, đồng thời mở rộng khả năng ứng dụng vào giảng dạy tiếng Việt như ngoại ngữ và xử lý ngôn ngữ tự nhiên.

23 Tìm hiểu một số lỗi ngứ pháp tiếng Việt của sinh viên Trung Quốc qua các bài viết luận / Lưu Huyền Trang // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 141-149 .- 400

Tìm hiểu lỗi ngữ pháp của các sinh viên Trung Quốc thông qua việc tiến hành khảo sát các bài viết luận của 60 sinh viên Trung Quốc trình độ trung cấp đang học tập tại Khoa Việt Nam học – Trường Đại học Hà Nội. Từ đó tiến hành phân tích, tìm nguyên nhân của những khó khăn và xây dựng giải pháp giúp sinh viên có thể lĩnh hội tiếng Việt một cách hiệu quả hơn.

24 Nghiên cứu việc sử dụng ngôn ngữ thận trọng trong viết học thuật bằng tiếng Anh và tiếng Việt / Vũ Thị Thanh Hoa // .- 2024 .- Số 4 (402) .- Tr. 51-58 .- 420

Nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ thận trọng trong bối cảnh khác nhau nhưng nghiên cứu về ngôn ngữ thận trọng được sử dụng trong văn bản học thuật tiếng Anh chưa nhiều. Vì thế nghiên cứu này được thực hiện để so sánh việc sử dụng ngôn ngữ thận trọng trong văn bản học thuật bằng tiếng Anh và tiếng Việt và trả lời các câu hỏi nghiên cứu.

25 Miền nguồn “bão” trong diễn ngôn ẩn dụ về dịch bệnh Covid-19 trên báo điện tử trực tuyến tiêng Việt / Nguyễn Thị Bích Hạnh // .- 2024 .- Số 5 (403) .- Tr. 3-10 .- 400

Khảo sát và nghiên cứu ẩn dụ có miền nguồn “bão” trong các bài viết liên quan đến dịch bệnh Covid-19 trên báo điện tử trực tuyến tiếng Việt. Bài viết đã sử dụng tổng hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính mà chủ yếu là phân tích diễn ngôn, kết hợp với thủ pháp thống kê, phân loại để đạt được mục tiêu nghiên cứu đặt ra.

26 Thanh điệu một số thổ ngữ Lộc Hà – Hà Tĩnh / Nguyễn Thị Lệ Hằng, Trương Thị Mai Hoa // .- 2024 .- Số 5 (403) .- Tr. 63-70 .- 400

Nghiên cứu về thanh điệu một số thổ ngữ Lộc Hà – Hà Tĩnh, từ đó chỉ ra những khác biệt về hệ thống thanh điệu các thổ ngữ Lộc Hà. Tiếng Việt hiện nay được xem là một ngôn ngữ Nam Á có thanh điệu. Trong tiếng Việt, thanh điệu được xác định là một bộ phận cấu thành của các âm tiết đồng thời là từ.

27 Phủ định siêu ngôn ngữ, từ phiếm định và quán ngữ tiếng Việt / Nguyễn Thùy Nương // .- 2024 .- Số 3 (401) .- Tr. 64-80 .- 400

Nghiên cứu và xác định những phương tiện biểu đạt hành vi phủ định siêu ngôn ngữ đặc trưng trong tiếng Việt. Từ đó chỉ ra các khuôn cấu trúc trừu tượng là có chứa các từ phiếm định, mà có thể gọi là các khuôn siêu ngôn ngữ.

28 Giảng dạy ngữ cố định cho người nước ngoài học tiếng Việt / Lê Thị Thùy Vinh // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- .- 400

Trong hệ thống từ vựng tiếng Việt, để phản ánh các sự vật, hiện tượng và các thuộc tính của chúng trong thế giới bên ngoài và thế giới nội tâm của con người, bên cạnh các từ dời thì người Việt còn sử dụng các ngữ cố định. Bài viết đề cập một số biện pháp dạy học ngữ cố định cho người nước ngoài, từ đó góp phần định hướng giảng dạy bộ phận từ vựng này giúp người nước ngoài có thể sử dụng tiếng Việt như người Việt.

29 Tiếp thu kết cấu vận động trong tiếng Việt: Trường hợp sinh viên Hàn Quốc và sinh viên Trung Quốc / Chu Phong Lan // .- 2024 .- Số 354 (6A) - Tháng 6 .- Tr. 97-104 .- 400

Nghiên cứu và chỉ ra sự ảnh hưởng của các yếu tố ngôn ngữ đến quá trình tiếp thu kết cấu vận động trong tiếng Việt. Từ đó có thể nhận thức sâu sắc hơn, sự tương đồng và khác biệt về loại hình ngôn ngữ giữa ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích đưa đến những thuận lợi và khó khăn gì cho người nước ngoài học tiếng Việt.

30 Sức khỏe qua lăng kính tục ngữ : so sánh Việt Nam và Nhật Bản / Mai Thị Ý Thiên // .- 2024 .- Số 05(66) .- Tr. 86-93 .- 400

Nghiên cứu này tập trung vào việc so sánh tục ngữ Việt Nam và Nhật Bản liên quan đến sức khỏe, với mục tiêu phân tích các đặc điểm nổi bật và giá trị văn hóa ẩn chứa trong các câu tục ngữ. Bằng phân tích và so sánh, chúng ta có thể thấy rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong cách nhìn nhận các vấn đề sức khỏe giữa hai dân tộc. Mặc dù kinh nghiệm từ xa xưa nhưng những bài học rút ra từ tục ngữ có thể được áp dụng trong đời sống hiện đại để cải thiện sức khỏe và đảm bảo chất lượng cuộc sống.