CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
chủ đề: Tiếng Việt
1 Một số chức năng ngữ dụng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt / Trần Thùy An // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 28-36 .- 400
Lời chỉnh sửa hội thoại là một trong những hiện tượng phổ biến trong tương tác hội thoại và bắt đầu thu hút được sự quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam trong những năm gần đây. Chức năng chính của lời chỉnh sửa là giải thích, điều chỉnh, làm rõ nhằm khắc phục sự cố nảy sinh trong quá trình tương tác nhằm duy trì tính mạch lạc và liên tục của hội thoại. Ngoài chức năng này, lời chỉnh sửa còn thực hiện một số chức năng ngữ dụng khác. Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi sẽ phân tích một số chức năng ngữ dụng của lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại tiếng Việt.
2 Một số thông số âm học của phụ âm đầu tiếng Việt hướng đến xây dựng bảng đo thính lực lời (Khảo sát trường độ, cường độ và tần số cơ bản) / Đinh Thị Hằng // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 80-86 .- 400
Bài nghiên cứu này khảo sát ba thông số âm học cơ bản của 22 phụ âm đầu tiếng Việt, bao gồm trường độ (duration), cường độ (intensity) và tần số cơ bản (fundamental frequency - F₀). Kết quả cho thấy mỗi nhóm phụ âm (tắc, xát, mũi, bên) có đặc trưng riêng biệt về các tham số âm học, đồng thời tồn tại sự khác biệt đáng kể giữa người nói nam và nữ. Những phát hiện này góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc trưng âm học và cơ chế cấu âm trong tiếng Việt, đồng thời cung cấp dữ liệu tham chiếu hữu ích cho các nghiên cứu xử lý tiếng nói, nhận dạng người nói và thiết kế bảng từ đo thính lực lời.
3 Đặc điểm định danh cây ăn quả trong tiếng Việt / Hà Thùy Dương // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 87-93 .- 400
Bài viết khảo sát 1218 tên gọi cây ăn quả trong tiếng Việt, qua đó xác lập 14 mô hình định danh tiêu biểu dựa trên các đặc điểm như địa danh, màu sắc, hình dạng, kích thước, hương vị, nguồn gốc dân tộc, truyền thuyết dân gian,… Kết quả cho thấy tư duy định danh của người Việt gắn chặt với tri giác cảm quan, kinh nghiệm canh tác và văn hóa bản địa. Các mô hình định danh và các đặc trưng định danh phản ánh sự phong phú, linh hoạt trong cấu trúc từ vựng và cách người Việt ngôn ngữ hóa thế giới thực vật. Nghiên cứu góp phần làm rõ cơ chế tri nhận ngôn ngữ, đồng thời cung cấp tư liệu hữu ích cho từ điển học, giáo dục và bảo tồn tri thức dân gian.
4 Tích hợp dạy phát âm theo ngữ cảnh và phát triển kĩ năng nghe hiểu trong giảng dạy tiếng Việt (qua trường hợp nghiên cứu tại Đại học Columbia) / Nguyễn Phương Chung // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 27-34 .- 400
Dựa trên một thử nghiệm kéo dài bốn năm trong học phần Tiếng Việt năm thứ nhất tại Đại học Columbia, nghiên cứu theo dõi sự tiến bộ về phát âm và nghe hiểu của sinh viên sang năm học thứ hai. Kết quả cho thấy giá trị của việc tích hợp luyện phát âm với dạy nghe trong việc nâng cao năng lực ngôn ngữ và hỗ trợ học tập tự định hướng, đồng thời đề xuất một mô hình toàn diện cho giáo dục tiếng Việt hiện đại.
5 Dịch khẩu hiệu quảng cáo Anh - Việt theo hướng tiếp cận chức năng - văn hoá / Vũ Thị Thanh // .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 40-46 .- 400
Bài viết này khảo sát cách thức dịch sáng tạo góp phần bản địa hóa các khẩu hiệu quảng cáo tiếng Anh sang tiếng Việt, nhằm đồng bộ hóa bản sắc thương hiệu với sự hấp dẫn về mặt văn hoá. Dựa trên lý thuyết Skopos và các khái niệm thuộc ngữ dụng học văn hoá, nghiên cứu tiến hành phân tích 15 cặp khẩu hiệu quảng cáo, trong đó chọn ra phân tích sâu 7 trường hợp minh hoạ, và phỏng vấn 5 chuyên gia trong lĩnh vực dịch thuật và tiếp thị. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 6 chiến lược chính: chuyển đổi từ vựng, tái cấu trúc cú pháp, điều chỉnh ẩn dụ, thay thế văn hoá, tái thiết cảm xúc và tương đương chức năng. Các chiến lược này có thể được vận dụng kết hợp nhằm duy trì hiệu lực thuyết phục và sự phù hợp văn hoá. Các chuyên gia được phỏng vấn nhấn mạnh vai trò của người dịch như những đồng tác giả sáng tạo, có nhiệm vụ dung hoà giữa giọng điệu thương hiệu, định hướng truyền thông và kỳ vọng của công chúng mục tiêu. Bài viết đề xuất mở rộng khái niệm năng lực dịch thuật theo hướng bao gồm cả sự sáng tạo, nhận thức văn hoá và tư duy chiến lược; đồng thời khuyến nghị tích hợp mô hình chuyển ngữ sáng tạo vào chương trình đào tạo biên dịch viên tại Việt Nam. Những phát hiện này có ý nghĩa thiết thực đối với lý thuyết và thực hành chuyên nghiệp trong lĩnh vực tiếp thị xuyên văn hoá.
6 Trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Việt / Phạm Anh Tú // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 28-39 .- 400
Bài viết được thực hiện với mục đích hệ thống hóa và phân loại trường từ vựng ẩm thực trong tiếng Việt nhằm không chỉ góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà còn phục vụ hiệu quả cho công tác giảng dạy, biên soạn từ điển, dịch thuật và nghiên cứu liên ngành. Thông qua việc phân tích năm tiểu trường: nguyên liệu, hoạt động và phương thức chế biến, món ăn - đồ uống, thưởng thức, vật dụng ẩm thực liên quan, ta thấy rõ tính hệ thống và tính liên kết ngữ nghĩa bên trong trường từ vựng này.
7 Lịch sử nghiên cứu ngữ điệu tiếng Việt / Phạm Thị Thu Hà // .- 2025 .- Số 10 .- Tr. 40-50 .- 400
Trong lĩnh vực ngữ âm và âm vị học tiếng Việt, ngữ điệu là yếu tố nhận được ít sự quan tâm nhất cho đến thời gian gần đây. Trước năm 1954, mặc dù đã có một số công trình đề cập đến ngữ điệu tiếng Việt, nhưng khái niệm “ngữ điệu” khi đó chưa tương đồng với cách hiểu hiện nay, vốn phân biệt rõ với thanh điệu từ vựng. Sau năm 1954, các nhà ngôn ngữ học bắt đầu nghiên cứu ngữ điệu tiếng Việt từ cả hai góc độ thực nghiệm và công cụ. Từ đó, ngữ điệu tiếng Việt được mô tả dựa trên cả đặc trưng ngữ âm và phương diện chức năng. Bài viết này tổng quan các nghiên cứu về ngữ điệu tiếng Việt trong khoảng bảy thập kỷ qua, đồng thời nỗ lực lý giải vì sao đến nay vẫn chưa thể xây dựng được một mô hình lý thuyết âm vị học cho ngữ điệu tiếng Việt.
8 Sự tri nhận và biểu đạt không gian, thời gian trong tiếng Việt: Nghiên cứu trường hợp từ qua / Lê Thị Cẩm Vân // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 48-57 .- 400
Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp, quy chiếu và phối cảnh không gian của từ “qua” trong tiếng Việt, trên cơ sở đó phân tích sự chuyển di sang thời gian của từ này. Kết quả phân tích cho thấy có sự chuyển khung từ không gian sang thời gian với từ “qua” trong tiếng Việt, bao gồm trong đó sự đồ chiếu cấu trúc nghĩa biểu hiện, phối cảnh chuyển động. Mặt khác, sự chuyển khung cũng đem đến cho “qua” những khác biệt trong biểu đạt ngữ nghĩa và tri nhận thời gian so với phạm trù không gian.
9 Biểu hiện của phương châm cộng tác trong khẩu hiệu tuyên truyền tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) / Trần Thanh Dũ // .- 2025 .- Số 2) .- Tr. 42-51 .- 400
Khẩu hiệu tuyên truyền cũng là một sản phẩm ngôn từ nên quá trình giao tiếp qua khẩu hiệu tuyên truyền cũng không nằm ngoài quy luật trên. Đó là quá trình truyền gửi thông điệp từ một nhóm đối tượng này (nhà tuyên truyền, nhà quản lí xã hội) sang một nhóm đối tượng khác (đối tượng được tuyên truyền).
10 So sánh hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với một số phương ngữ Nùng ở Việt Nam / Phạm Anh Tú // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 10-23 .- 400
Bài viết này được viết với mục đích so sánh hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với một số phương ngữ Nùng ở Việt Nam trên bình diện đồng đại để thấy được những điểm tương đồng và khác biệt. Kết quả khảo sát về tương ứng đồng nhất và đối ứng giữa hệ thống âm chính tiếng Nùng Xuồng với 2 phương ngữ Nùng An và Nùng Giang cho thấy sự tương ứng giữa chúng là không cao và không logic trong mối quan hệ giữa các phương ngữ cùng một ngôn ngữ. Điều này một lần nữa đặt ra câu hỏi đã được chúng tôi nêu ra khi so sánh hệ thống âm đầu cũng giữa Nùng Xuồng và Nùng An, Nùng Giang: Liệu các phương ngữ này có thực sự cùng thuộc một tiểu nhóm ngôn ngữ, có quan hệ họ hàng gần gũi hay không?!.





