CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn

  • Duyệt theo:
391 Động lực thúc đẩy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho thanh niên: Chia sẻ kinh nghiệm giữa Việt Nam và Nam Phi / Lê Ô Pích // .- 2023 .- Số 07 (215) - Tháng 7 .- Tr. 29 - 37 .- 327

Trong bối cảnh thế giới mới, không phải “con cá to ăn con cá nhỏ mà là con cá nhanh ăn con cá chậm”, do vậy, hầu hết các quốc gia đều xác định khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo là chiến lược mang tình sống còn nhằm khẳng định vị thế, nâng cao năng lực cạnh tranh. Thanh niên là một bộ phận quan trọng của mọi dân tộc, và là chủ nhân tương lai của mọi đất nước. Quá trình lịch sử đất tranh giải phóng các dân tộc cho thấy: thanh niên luôn là lực lượng xung kích, nêu cao tinh thần yêu nước, chí khí anh hùng, bất khuất và có những đóng góp to lớn trong sự giải phóng dân tộc và giải phóng con người. Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, thời đại công nghệ số và cách mạng công nghệ 4.0, với độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, thanh niên chính là lực lượng tiên phong khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo là một trong những nhân tố chủ đạo tạo nên sự phát triển bền vững và thịnh vượng của mọi quốc gia. Nhiều quốc gia đã rất thành công khi ban hành các chính sách tạo động lực nhằm thúc đẩy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo đối với thanh niên. Trên cơ sở nghiên cứu, chia sẻ các bài học kinh nghiệm về tạo động lực thúc đẩy khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho thành niên Việt Nam, bài viết đề xuất một số gợi ý nhằm tạo động lực khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo cho thanh niên Nam Phi.

392 Triết lý giáo dục Islam giáo của Malaysia và một vài hàm ý cho Việt Nam / Vũ Thị Thanh // .- 2023 .- Số 07 (215) - Tháng 7 .- Tr. 20 - 28 .- 327

Hệ thống giáo dục của Malaysia được hướng dẫn theo Triết lý Giáo dục (TLGD) Quốc gia Malaysia nhấn mạnh rằng, giáo dục hội nhập phải là lực đẩy chính trong việc giáo dục và tạo ra những học sinh có khả năng cạnh tranh quốc tế. Cùng với việc thực hiện một số mũi nhọn để đạt được mục tiêu đó, TLGD cũng đặt nền tảng giáo dục thông qua việc hình thành một cộng đồng tri thức đặc thù làm nền tảng cho sự phát triển quốc gia hội nhập. Đạt được mục tiêu này sẽ góp phần tạo nên bước tiến mạnh mẽ và thực chất trong việc giải quyết những thách thức của toàn cầu hóa mà mỗi cá nhân trong xã hội Malaysia cần phải đối mặt. Nội dung TLGD tập trung vào truyền tải các giá trị, niềm tin vào Chúa và thái độ liên quan quá trình phát triển của cá nhân và xã hội. Những giá trị, niềm tin và thái độ này quyết định phương hướng giáo dục của Malaysia, đặc biệt là mục đích, mục tiêu, phân phối nội dung và đánh giá giáo dục. Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với những tài liệu sẵn có để tìm hiểu về nội dung, nội hàm TLGD của Malaysia; phân tích ý nghĩa, vai trò của TLGD Quốc gia Malaysia đối với chính sách phát triển giáo dục của quốc gia này.

393 Sức mạnh mềm văn hóa của Iran / Trần Thùy Phương // .- 2023 .- Số 07 (215) - Tháng 7 .- Tr. 3 - 10 .- 327

Theo nghiên cứu của Joseph Samuel Nye, sức mạnh mềm bao gồm ba nội dung cơ bản là văn hóa của quốc gia, tư tưởng chính trị và chính sách đối nội, chính sách ngoại giao và giá trị mà chính sách đó muốn truyền tải. Xác định rõ tầm quan trọng của sức mạnh mềm trong bối cảnh chính trị và hợp tác quốc tế có nhiều biến đổi, Quốc gia Hồi giáo Iran đã có nhiều điều chỉnh trong chính sách đối ngoại, theo hướng tiếp cận ngoại giao văn hóa linh hoạt hơn. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chính sách ngoại giao văn hóa của Iran dưới sự điều hành của Lãnh tụ tối cao đã đa dạng hơn, mục tiêu chính là truyền bá thông điệp của Cách mạng Hồi giáo ra thế giới. Chính phủ Iran định hình rõ bốn chủ thể đảm nhận nhiệm vụ ngoại giao văn hóa, trong đó nhấn mạnh vào Tổ chức Văn hóa và Hợp tác Hồi giáo ICRO. Trong giai đoạn 1979-2000, ngoại giao văn hóa của Iran có nhiều bước tiến vượt bậc, song gần đây có dấu hiệu chững lại. Tuy nhiên, triển vọng trong thời gian tới vẫn sáng. Chính phủ Iran sẽ nỗ lực nhằm gia tăng sức mạnh văn hóa để nâng cao vị thế khu vực và toàn cầu.

394 Xuất khẩu dịch vụ của Ấn Độ: thực trạng và xu hướng phát triển / Nguyễn Thị Hiên // .- 2023 .- Số 06 (214) - Tháng 6 .- Tr. 58 - 64 .- 327

Trong thập kỷ qua, Ấn Độ đã chứng kiến sự thay đổi to lớn trong ngành dịch vụ, từ việc trở thành một thị trường mới nổi về xuất khẩu dịch vụ đến việc đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Nghiên cứu tập trung vào khám phá và phân tích sâu về thực trạng phát triển của hoạt động xuất khẩu dịch ở Ấn Độ. Xem xét sự gia tăng của các lĩnh vực chính như công nghệ thông tin và phần mềm, vận tải, dịch vụ tài chính, dịch vụ y tế và du lịch. Qua đó phân tích xu hướng phát triển của lĩnh vực xuất khẩu dịch vụ của Ấn Độ. Nghiên cứu cũng đánh giá tác động của các chính sách chính phủ và biện pháp cải cách trong việc thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ và nâng cao năng lực cạnh tranh của Ấn Độ. Nghiên cứu sẽ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển và tiềm năng của xuất khẩu dịch vụ, phân tích những xu hướng và thách thức trong phát triển hoạt động xuất khẩu dịch vụ của Ấn Độ.

395 Nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số / Nguyễn Thị Ngọc Mai // .- 2023 .- Số 06 (214) - Tháng 6 .- Tr. 51 - 57 .- 327

Trong du lịch, chuyển đổi số là thay đổi cách đi du lịch, cách làm du lịch, cách kinh doanh du lịch, cách quản lý du lịch nhờ dữ liệu và công nghệ số. Trong những năm gần đây, đặc biệt là kể từ sau đại dịch Covid- 19, cụm từ “chuyển đổi số trong du lịch” được nhắc đến nhiều hơn. Sự lan tỏa mạnh mẽ của Công nghệ 4.0 i sự ra đời của các công nghệ lớn như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, blockchain, thực tế ảo (VR), đang có những tác động to lớn và sâu rộng đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội, từ đó đặt ra yêu cầu cho các ngành kinh tế, trong đó có ngành du lịch và nguồn nhân lực du lịch buộc phải thay đổi để thích ứng và phát triển bền vững. Bài viết sẽ phân tích thực trạng nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam bối cảnh chuyển đổi số, đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, thách thức với nguồn nhân lực này, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam để thích ứng và đáp ứng tốt hơn với bối cảnh chuyển đổi số trong thời gian tới.

396 Kinh nghiệm quốc tế trong phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành du lịch và bài học cho Việt Nam / Nguyễn Bảo Thư // .- 2023 .- Số 06 (214) - Tháng 6 .- Tr. 46 - 57 .- 327

Du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa, xã hội ở các nước và trở thành ngành công nghiệp không khói đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Sự phục hồi của ngành du lịch năm 2022 và hai quý đầu năm 2023 có vai trò to lớn từ những chính sách hỗ trợ của nhà nước. Quả trình phát triển, du lịch đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, tuy nhiên còn nhiều rào cản, khó khăn và hạn chế dẫn đến hiệu quả chưa cao, nguy cơ tiềm ẩn vẫn tồn tại, đặc biệt chưa tạo được khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Bài viết tập trung vào nội dung nghiên cứu học tập kinh nghiệm phát triển du lịch nói chung và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành du lịch của một số quốc gia và các điểm đến du lịch từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

397 Nông nghiệp xanh tại Ghana và Nam Phi - Hàm ý cho Việt Nam / Hồ Diệu Huyền // .- 2023 .- Số 06 (214) - Tháng 6 .- Tr. 38 - 45 .- 327

Ghana là một trong những quốc gia có tỷ trọng nhập khẩu hóa chất nông nghiệp cao nhất châu Phi. Có đến bảy loại thuốc trừ sâu bị cấm trên toàn thế giới được sử dụng ở Ghana. Chính phủ Ghana cũng triển khai nông nghiệp xanh trên phạm vi cả nước thông qua bộ tài liệu về “Ghana Goes Green” hướng dẫn cách thực hành nền kinh tế xanh nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu. Tại Nam Phi, cùng với năng lượng, quản lý tài nguyên, giao thông thì nông nghiệp là một trong bốn trọng tâm trong mô hình kinh tế xanh của Nam Phi được thông qua vào năm 2011. Việt Nam cũng đang triển khai nông nghiệp xanh tại một số tinh thành như: Bình Phước, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Kiên Giang, Quảng Bình... bước đầu đem lại những tác động tích cực đối với nền nông nghiệp. Bài viết phân tích, so sánh và khái quát về thực trạng triển khai nông nghiệp xanh tại Ghana và Nam Phi, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tương lai.

398 Nội chiến ở Sudan và tác động đối với láng giềng, khu vực và các nước lớn / Nguyễn Hồng Quân // .- 2023 .- Số 06 (214) - Tháng 6 .- Tr. 28 - 37 .- 327

Cuộc nội chiến hiện đang diễn ra tại Sudan chẳng những không thể đưa đất nước trở lại chế độ dân sự, mà còn củng cố thêm chế độ quân sự, hơn nữa lại ảnh hưởng nhiều mặt tới các nước láng giềng, khu vực. Đồng thời cường quốc như Mỹ, Nga hay Trung Quốc cũng gặp trở ngại khi triển khai các chiến lược khu vực của họ. Trong bối cảnh ấy, chưa thể nói khi nào Sudan mới có thể ổn định, hòa bình.

399 Kinh nghiệm của một số quốc gia Đông Nam Á trong xây dựng mô hình quản lý và sử dụng vốn đầu tư ở các doanh nghiệp nhà nước / Nguyễn Tuấn Anh // .- 2024 .- Số 2 (287) .- Tr. 3 - 9 .- 327

Việc xây dựng thể chế quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư và kinh doanh tại doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ quan trọng đối với chính phủ nhiều quốc gia, bởi đây là khu vực nắm giữ nguồn lực và tài sản rất lớn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở nhiều quốc gia ở khu vực châu Á, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, hiệu quả trong quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư và kinh doanh còn những bất cập và hạn chế, chưa phát huy được lợi thế của khu vực này vào sự phát triển quốc gia. Ở Đông Nam Á, Singapore được xem là trường hợp thành công trong việc phát huy sức mạnh của khu vực doanh nghiệp nhà nước thông qua Tập đoàn Temasek Holdings từ những năm 2000, trong khi đó những cải cách mạnh mẽ của Bộ Doanh nghiệp nhà nước của Indonesia gần đây cũng đã mang lại những chuyển biến tích cực đối với nền kinh tế lớn nhất khu vực này. Bài viết tập trung làm rõ kinh nghiệm của Singapore và Indonesia trong xây dựng mô hình quản lý và sử dụng vốn đầu tư ở các doanh nghiệp nhà nước.

400 An ninh khu vực và di cư lao động tạm thời ở Đông Nam Á và Đông Á / Nguyễn Nữ Nguyệt Anh // .- 2024 .- Số 1 (286) .- Tr. 43 - 51 .- 327

Di cư lao động tạm thời trong khu vực châu Á được xem là một giải pháp cho việc di chuyển lao động trên quy mô toàn cầu dựa trên động lực cung và cầu nhằm đem lại lợi ích cho ba bên: quốc gia gửi, quốc gia tiếp nhận lao động và bản thân những người lao động. Trong khi các nước châu Âu có chung chính sách kinh tế, chính trị và di cư thì châu Á không có bất kỳ cơ quan hay công cụ chung nào về nhân quyền. Việc khó tìm được tiếng nói chung trong các thỏa thuận trao đổi lao động hay việc nhân quyền của lao động di cư bị xâm phạm có thể tạo nên những căng thẳng giữa các quốc gia liên quan, gây bất ổn khu vực trên các khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội. Bài viết giới thiệu về di cư lao động ở châu Á, nhấn mạnh đến trường hợp di cư nội khối ASEAN và từ ASEAN sang các nước Đông Á. Thông qua việc bàn luận về sự quản lý di cư lao động của các quốc gia liên quan, bài viết chỉ ra sự ảnh hưởng quan trọng của loại hình di cư này đến an ninh khu vực. Cuối cùng, bài viết phân tích việc tham gia và thực hiện các công ước quốc tế và khu vực của các quốc gia và đề xuất biện pháp tăng cường an ninh khu vực bằng cách xây dựng cơ chế nhằm nâng cao việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho lao động di cư.