CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Xây Dựng

  • Duyệt theo:
111 Đánh giá mức độ quan trọng và tần suất sử dụng thông tin mô hình (BIM) của các cấu kiện trong dự án truyền tải điện tại Việt Nam / Nguyễn Trọng Hiếu, Nguyễn Anh Thư // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 201 - 205 .- 620

Nghiên cứu được áp dụng cho khu vực tỉnh Lâm Đồng – khu vực thường xuyên xảy ra các hiện tượng trượt lở đất nghiêm trọng. Mục tiêu chính của nghiên cứu là phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông số địa chất và đặc trưng hình học mái dốc đến hệ số an toàn mái dốc. Mô hình phân tích được xây dựng bằng phương pháp phần tử hữu hạn PLAXIS 2D, với 500 trường hợp mô phỏng được thực hiện dựa trên bốn thông số đầu vào: chiều cao mái dốc (H), góc nghiêng mái dốc (β), lực dính (c) và góc ma sát trong (φ). Sau khi thu thập dữ liệu từ các mô phỏng, thuật toán Artificial Neural Networks – ANN được áp dụng để đánh giá và xác định mức độ ảnh hưởng của từng thông số đến hệ số an toàn. Kết quả cho thấy chiều cao mái dốc là yếu tố có tầm ảnh hưởng lớn nhất và góc nghiêng mái dốc ảnh hưởng không đáng kể đến độ ổn định của mái dốc trong khu vực nghiên cứu. Bài báo cung cấp cái nhìn tổng thể về ổn định mái dốc, đồng thời góp phần định hướng các giải pháp phòng chống trượt lở đất tại khu vực tỉnh Lâm Đồng.

112 Tính chất kỹ thuật ở độ tuổi sớm của vữa bơm cường độ cao chứa các loại cát khác nhau / Nguyễn Ngọc Thành // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 175 - 182 .- 620

Nghiên cứu này chủ yếu tập trung khảo sát tính chất kỹ thuật (độ lưu động, cường độ chịu nén và tính co ngót khô) ở độ tuổi sớm của vữa cường độ cao sử dụng bốn loại cát khác nhau. Tỷ lệ thành phần của vữa cường độ cao được lựa chọn cố định, bao gồm tỷ lệ cát/xi măng là 1,5; tỷ lệ silica fume/xi măng là 10%, tỷ lệ phụ gia siêu dẻo/xi măng là 1,5% và tỷ lệ nước/xi măng là 29%. Bốn loại cát với mô đun độ lớn khác nhau (Mdl = 2,46; 3,66; 4,04 và 3,16) được lựa chọn để khảo sát. Kết quả chỉ ra rằng độ lưu động của bốn cấp phối vữa tươi nằm trong khoảng từ 235 – 290 mm và cường độ chịu nén ở 1, 3 và 7 ngày tuổi nằm trong khoảng từ 52,1 – 58,4 MPa; 80,1 – 90,3 MPa và 87,3 – 98,4 MPa. Sau 7 ngày tuổi, các mẫu vữa có giá trị co ngót khô dao động trong khoảng từ 0,031 – 0,045% so với chiều dài ban đầu. Việc sử dụng cốt liệu nhỏ với cỡ hạt lớn (tức mô đun độ lớn cao) đã làm giảm độ lưu động của vữa tươi nhưng cải thiện cường độ chịu nén từ 6,19 – 12,71% ở 7 ngày tuổi và làm giảm tính co ngót khô đến 7 ngày tuổi của các mẫu vữa đã đóng rắn. Tóm lại, cấp phối vữa sử dụng cát có mô đun độ lớn là 3,16 được đề xuất là cấp phối vữa tối ưu do có độ lưu động phù hợp cho phương pháp thi công bơm, cường độ chịu nén tương đối cao (92,7 MPa ở 7 ngày tuổi) và tính co ngót khô thấp (0,031% ở 7 ngày tuổi).

113 Đánh giá thực trạng ứng dụng mô hình thông tin kỹ thuật hạ tầng (BIM) vào công tác quản lý vận hành công trình hạ tầng kỹ thuật giao thông / Nguyễn Anh Thư, Huỳnh Thành Luân // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 169 - 174 .- 624

Đánh giá thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các quy trình quản lý vận hành hiện tại thông qua khảo sát các chuyên gia trong ngành, nghiên cứu sẽ tìm hiểu quy trình chuyển giao thông tin hoàn công hiện tại và sự cần thiết của các ứng dụng IT vào hỗ trợ các công tác quản lý vận hành các công trình giao thông.

114 Phân tích tác động của khối xây chèn đến ứng xử động đất của khung bê tông cốt thép có xét lỗ mở và tầng mềm / Phạm Phú Anh Huy, Lê Cao Vinh, Nguyễn Văn Tiền // Khoa học và Công nghệ .- 2025 .- Số 4 (71) .- Tr. 54-64 .- 624

Bài báo phân tích ảnh hưởng của tường xây chèn (TXC) có lỗ mở đến sự làm việc của khung bê tông cốt thép (BTCT) dưới tác động của động đất. Thông qua mô hình phân tích số, bài báo đánh giá các thông số kết cấu quan trọng bao gồm chuyển vị ngang (ᦆ), mô men uốn (ᠹ) và lực cắt (ᡃ) tại chân cột, với các giá trị tỷ lệ mở lỗ 0-100%, và độ dày tường chèn ᡖ 㐄 䙦70 ㎘ 330䙧ᡥᡥ cho các trường hợp lỗ đối xứng, không đối xứng và tầng mềm. Kết quả cho thấy khi tỷ lệ mở lỗ tăng, độ cứng tổng thể của hệ khung giảm, làm tăng chuyển vị ngang, mô men uốn lớn hơn và sự thay đổi lực cắt tại chân cột. Trong trường hợp lỗ đối xứng và không đối xứng, TXC mỏng (ᡖ 㐄 70ᡥᡥ, 110ᡥᡥ) dễ làm khung bị suy giảm khả năng chịu tải và độ cứng hơn so với tường chèn dày (ᡖ 㐄 220ᡥᡥ, 330ᡥᡥ), đặc biệt khi tỷ lệ mở lỗ vượt 60%. Bên cạnh đó, tầng mềm làm giảm đáng kể độ cứng của hệ khung, dẫn đến chuyển vị ngang lớn hơn và giảm khả năng chịu tải ngang. Trên cơ sở đó, bài báo đã đề xuất một số khuyến nghị thiết kế, bao gồm giới hạn tỷ lệ mở lỗ dưới 60% để duy trì độ cứng tổng thể, ưu tiên lỗ mở đối xứng để cải thiện sự phân bố ứng suất, và sử dụng tường chèn dày hơn (≥220mm) nếu tỷ lệ mở lỗ vượt 60% để giảm tác động tiêu cực đến hệ khung. Những kết quả này cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho thiết kế và tối ưu hóa khung BTCT có TXC, giúp đảm bảo độ ổn định và khả năng chịu tải ngang của công trình.

116 Ảnh hưởng của từ biến và hệ số thấm trong xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm kết hợp với gia tải trước và bơm hút chân không / Lê Trọng Nghĩa , Nguyễn Trung Kiên , Nguyễn Minh Trung // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 11 - 16 .- 690

Việc dự báo chính xác độ lún cố kết sơ cấp và thứ cấp trong nền đất mềm bão hòa là yếu tố then chốt trong thiết kế xử lý nền đất yếu. Nghiên cứu này cho thấy kết quả mô phỏng phần tử hữu hạn (FEM) 2D và 3D cho phương pháp gia tải trước kết hợp hút chân không và bấc thấm (PVD) cùng với việc sử dụng hai mô hình đất Soft Soil (SS) và Soft Soil Creep (SSC). Kết quả cho thấy, việc sử dụng mô hình đất có xét đến từ biến cho độ lún bề mặt tương đồng với kết quả quan trắc thực tế, trong khi mô hình đất yếu bỏ qua lún thứ cấp do từ biến dẫn đến có sự sai lệch về kết quả đánh giá. Mô hình cũng góp phần khẳng định độ lún thứ cấp do từ biến ảnh hưởng nhiều đến kết quả bài tính xử lý nền. Sự so sánh giữa kết quả của mô hình 2D và 3D càng khẳng định tầm quan trọng của việc hiệu chỉnh hệ số thấm khi chuyển từ bài toán đối xứng trục sang bài toán phẳng để đảm bảo độ chính xác mô hình và hiệu quả kinh tế - kỹ thuật trong xử lý nền đất yếu bằng bấc thấm kết hợp với gia tải trước và bơm hút chân không.

117 Phân tích năng lượng trong tòa nhà văn phòng của nhà xưởng công nghiệp trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm / Võ Thị Tuyết Giang, Phạm Tấn Phát, Nguyễn Xuân Nguyên // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 17 - 22 .- 624

Đánh giá hiệu quả sử dụng năng lượng là yếu tố ngày càng được quan tâm trong thiết kế và vận hành công trình, đặc biệt trong bối cảnh chi phí điện ngày càng tăng cao và nhu cầu phát triển bền vững trên toàn cầu. Nghiên cứu này trình bày kết quả mô phỏng năng lượng của một tòa nhà văn phòng trong nhà xưởng công nghiệp tại tỉnh Bình Dương, Việt Nam với điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm. Tòa nhà sử dụng kính hộp thông thường dày 24 mm với hệ số truyền nhiệt U = 2,7 W/m².K, hệ số tổng năng lượng bức xạ mặt trời truyền qua SHGC = 83 %, và hệ số truyền sáng VLT = 82 %. Dữ liệu mô phỏng được thực hiện bằng phần mềm DesignBuilder, với việc thay đổi ba biến số: hướng công trình, tỷ lệ cửa sổ và nhiệt độ đặt điều hòa. Kết quả mô phỏng cho thấy mức tiêu thụ năng lượng có thể chênh lệch hơn 11% giữa các phương án, và các yếu tố hướng công trình, tỷ lệ cửa sổ ảnh hưởng đáng kể đến tải lạnh và điểm số công trình xanh theo hệ thống LOTUS. Nghiên cứu cũng cho thấy kính thông thường tuy phổ biến nhưng chưa đáp ứng tốt yêu cầu tiết kiệm năng lượng. Từ đó, bài báo đã đưa ra các đề xuất thực tiễn nhằm cải thiện thiết kế và lựa chọn vật liệu công trình phù hợp hơn.

118 Tích hợp dữ liệu đa cảm biến trong khảo sát địa hình và hiện trạng công trình / Lương Bảo Bình, Trần Phúc Minh Khôi // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 23 - 32 .- 624

Bài báo này trình bày tổng quan về các thiết bị và phương pháp đo đạc hiện trường hiện đại, và các hệ thống đo đạc tích hợp đa cảm biến được ứng dụng trong khảo sát địa hình và hiện trạng công trình. Các thiết bị chủ đạo như máy toàn đạc điện tử, GNSS RTK, không ảnh, LiDAR, máy quét laser mặt đất và máy đo sâu hồi âm, cũng như các hệ thống tích hợp đa cảm biến trên UAV và USV được phân tích theo đặc điểm kỹ thuật và phạm vi ứng dụng. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một quy trình tích hợp dữ liệu đo đạc đa cảm biến bao gồm bốn bước: thu thập, xử lý, mô hình hóa và hiển thị không gian trên nền tảng webGIS. Quy trình này được áp dụng tại công trình cảng biển Bà Rịa Serece, trong đó các nền tảng UAV, USV và máy quét toàn đạc được triển khai đồng thời để thu thập dữ liệu trên không, trên bờ và dưới nước. Kết quả mô hình hóa và tích hợp dữ liệu trên ArcGIS Online cho thấy tính khả thi của quy trình cũng như độ chính xác cao và khả năng hiển thị đồng bộ thông tin 3D của hiện trạng công trình. Bài báo khẳng định tiềm năng ứng dụng của các hệ thống đo đạc tích hợp trong khảo sát địa hình và số hóa hiện trạng, hỗ trợ thiết kế – giám sát – quản lý công trình trên nền tảng GIS hiện đại.

119 Phân tích các yếu tố rủi ro và đề xuất tích hợp mô hình thông tin công trình (BIM) với cấu trúc phân chia rủi ro (RBS) trong giai đoạn thi công dự án nhà cao tầng tại Việt Nam / Lê Hoàng Minh Đăng, Nguyễn Anh Thư // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 39 - 44 .- 624

Trong bối cảnh ngành xây dựng ngày càng phát triển, với nhiều dự án nhà cao tầng phức tạp, việc quản lý rủi ro trở thành yếu tố then chốt nhằm đảm bảo tiến độ, chất lượng và chi phí. Với mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro trong các dự án, nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các rủi ro ảnh hưởng đến quá trình thi công dự án nhà cao tầng và phân tích tác động của chúng. Để thực hiện nghiên cứu, tổng cộng 41 yếu tố rủi ro được xác định từ các nghiên cứu trước đây, kết hợp cùng phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia đã có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng. Sau khi xây dựng bảng câu hỏi và gửi đến 70 đối tượng khảo sát, thu về 63 phản hồi hợp lệ đưa vào phân tích. Từ kết quả phân tích, sắp xếp các yếu tố rủi ro theo thứ tự mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp trong giai đoạn thi công của dự án. Những phát hiện này cung cấp cơ sở cho việc đề xuất xây dựng một mô hình tích hợp Mô hình Thông tin Công trình (BIM) và Cấu trúc Phân chia Rủi ro (RBS), giúp hỗ trợ nhận diện và phân tích rủi ro hiệu quả, góp phần nâng cao hiệu suất và chất lượng trong ngành xây dựng tại Việt Nam.

120 Đặc tính kỹ thuật của vữa xi măng chứa tro bay được hoạt hóa bởi natri silicat / Bùi Phương Trinh, Lê Thị Thủy // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 45 - 52 .- 624

Nghiên cứu này tập trung đánh giá đặc tính kỹ thuật của vữa xi măng chứa 20% tro bay được hoạt hóa bởi natri silicat (Na2SiO3) nhằm nâng cao chất lượng của vữa xây dựng chứa tro bay ứng dụng trong các công trình xây dựng. Vữa xi măng được chế tạo với tỷ lệ nước/chất kết dính là 0,5 và tỷ lệ cát/chất kết dính là 2,5. Hàm lượng Na2SiO3 được thêm vào trong vữa chứa tro bay ở mức 0, 2 và 4% theo khối lượng. Sau quá trình tạo hình và dưỡng hộ 24±4 h trong khuôn, các mẫu vữa được tháo khuôn và dưỡng hộ trong nước trước khi tiến hành thí nghiệm các đặc tính kỹ thuật. Đặc tính kỹ thuật của vữa xi măng được khảo sát bao gồm độ chảy xòe, cường độ chịu kéo khi uốn, cường độ chịu nén và hệ số hút nước do mao dẫn. Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng độ chảy xòe của vữa tươi nằm trong khoảng 90 – 160 mm, cường độ chịu kéo khi uốn và cường độ chịu nén ở 28 ngày tuổi của các mẫu vữa nằm trong khoảng 5,5 – 12,2 MPa và 38,7 – 50,4 MPa và hệ số hút nước do mao dẫn ở 28 ngày tuổi nằm trong khoảng 0,032 – 0,074 kg/m2·phút0,5. Việc bổ sung Na2SiO3 ảnh hưởng đáng kể đến đặc tính kỹ thuật của vữa xi măng chứa 20% tro bay. Mối quan hệ giữa các đặc tính kỹ thuật của vữa đóng rắn cũng được thiết lập. Kết luận rằng trong ba cấp phối vữa được thiết kế, vữa xi măng chứa 20% tro bay được hoạt hóa bởi 2% Na2SiO3 tối ưu có đặc tính kỹ thuật được cải thiện.