CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
9961 Thu hút vốn FDI vào phát triển đô thị công nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh / ThS.Tề Trí Dũng // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 57-60 .- 332.63

Thành tựu và bài học kinh nghiệm; Giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài dể phát triển hạ tầng công nghiệp.

9962 Nghiên cứu về chi trả lương hưu, trợ cấp xã hội qua hệ thống Bưu điện và đề xuất giải pháp / Nguyễn Thị Thu Hằng, Phan Trần Thủy Tiên/ // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 61-64 .- 332.4

Nghiên cứu khảo sát và xác định mức độ cảm nhận của người hưởng lương hưu trên địa bàn huyện Hóc Môn đối với công tác chi trả của bưu điện, đồng thời xác định những tồn tại cần được cải thiện, qua đó nâng cao công tác chi trả lương hưu, trợ cấp xã hội qua hệ thống bưu điện, tạo sự hài lòng ngày càng cao đối với người hưởng lương hư.

9963 Triển khai cơ chế tự chủ tại một số trường đại học Sư phạm Kỹ thuật / Vũ Thị Kim Thanh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 69-71 .- 332.1

Vài nét về các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật; Tình hình cung cấp dịch vụ giáo dục; Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật; Đề xuất và kiến nghị.

9964 Nợ công Việt Nam có thực sự đang ở mức an toàn? / Nguyễn Thị Lan // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 244 tháng 10 .- Tr. 2-12 .- 332.4

Bài nghiên cứu này dựa trên mô hình Cây nhị phân của Manasse và Roubini (2005) và khung nợ bền vững (DSF) của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2012) để đánh giá tính an toàn, bền vững của nợ công Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính an toàn của nợ công Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong ngắn hạn, Việt Nam khó xảy ra khủng hoảng nợ công do các chỉ số phân tích đều thỏa mãn điều kiện an toàn nợ công của mô hình Cây nhị phân. Tuy nhiên, đánh giá các mức nợ công này theo DSF của IMF và WB (2012) thì nợ công Việt Nam hiện nay có độ rủi ro cao, thiếu bền vững khi có đến 2 chỉ số vượt ngưỡng cảnh báo của DSF (2012).

9966 Mô hình lực hấp dẫn theo kinh tế lượng không gian cho phân tích xuất khẩu gạo của Việt Nam / Nguyễn Thị Thanh Huyền // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 20-23 .- 382.7 597

Tổng quat về mô hình lực hấp dẫn; Mô hình lực hấp dẫn cho hoạt động xuất khẩu gạo theo kinh tế lượng không gian; Kết quả ước lượng; Hàm ý chính sách.

9967 Phát triển kinh tế phi chính thức tại TP. Hồ Chí Minh / TS. Phạm Xuân Thành // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 65-68 .- 330

Trình bày thực trạng doanh thu vỉa hè tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra một số khuyến nghị để TP. Hồ ChisMinh nói riêng và cả nước nói chung xây dựng chính sách phù hợp với loại hình kinh tế này.

9968 Đo lường tăng trưởng bao trùm: Tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp ở Việt Nam / Phạm Thế Anh, Nguyễn Đức Hùng // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 244 tháng 10 .- Tr. 13-24 .- 330.959 791

Bài viết này nhằm đo lường tăng trưởng bao trùm thông qua đường cong tập trung và hàm cơ hội xã hội sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây. Kết quả tính toán chỉ ra rằng, tăng trưởng trong khu vực doanh nghiệp chưa thực sự có tính bao trùm. Đóng góp và hưởng thụ thành quả từ tăng trưởng chủ yếu thuộc về một số ít các doanh nghiệp lớn. Bên cạnh đó, cơ hội kinh tế trung bình có thể gia tăng nhưng tình trạng bất bình đẳng trong phân bổ cơ hội giữa doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn lại không được cải thiện. Ở góc độ chính sách, các kết quả này hàm ý Việt Nam cần có những chính sách phát triển hướng tới các nhóm doanh nghiệp nhỏ và yếu thế.

9969 Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình Việt Nam / Nguyễn Quang Hà // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 244 tháng 10 .- Tr. 43-51 .- 330.959 791

Nghiên cứu này sử dụng bộ số liệu hỗn hợp với mẫu gồm 6.548 hộ gia đình nông thôn giai đoạn 2004-2014 để phân tích xu hướng biến động phân bố đất nông nghiệp. Các phát hiện cơ bản từ nghiên cứu là: sau 10 năm, đất nông nghiệp do hộ gia đình quản lý sử dụng trở nên đồng đều hơn, thay vì phân hóa, tích tụ như các suy đoán truyền thống. Thay đổi quy mô diện tích sử dụng của các hộ gia đình chủ yếu là từ các nguyên nhân phi thị trường như giao đất, thừa kế; các nguyên nhân thị trường như mua bán, đấu thầu chỉ chiếm 1/3 số giao dịch về đất đai. Theo quan điểm của tác giả, do tác động của các yếu tố cản trở tích tụ đất đai vẫn tiếp tục chiếm ưu thế, nên phân bố đồng đều đất nông nghiệp hộ gia đình vẫn sẽ là xu hướng tương lai. Do đó, chính sách phát triển nông nghiệp nên được tiếp tục định hướng dựa trên nền tảng của quy mô sử dụng đất nhỏ, phân tán của hộ gia đình.

9970 Rào cản phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long và giải pháp khắc phục / Lê Du Phong // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 244 tháng 10 .- Tr. 52-57 .- 330.959 791

Trên cơ sở khái quát về vùng Đồng bằng sông Cửu Long, phân tích biến đổi khí hậu toàn cầu và tác động của nó đến môi trường tự nhiên của Vùng, ý nghĩa của sông Mê Kông và tác động của con người đối với sông Mê Kông dẫn đến việc thay đổi môi trường tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long, tác giả bài viết cho rằng, rào cản chính tác động đến sự thay đổi môi trường tự nhiên vùng Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay là do nguồn nước sông Mê Kong đã bị chặn phần lớn ở trên đầu nguồn. Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu cũng có, nhưng là về dài hạn còn hiện tại là chưa lớn. Từ đó tác giả đề xuất 7 giải pháp khắc phục rào cản nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững Vùng. Các giải pháp này bao gồm từ sự thay đổi nhận thức và tư duy phát triển, đến xây dựng chiến lược phát triển, huy động lực lượng nghiên cứu, coi trọng sự tham gia của khoa học và công nghệ, xây dựng hệ thống đê biển, các công trình dưới đê và các cống lớn ở các cửa sông của Vùng, đồng thời, Chính phủ phải cùng với các nước có liên quan trao đổi, bàn bạc và đi đến những thỏa thuận có tính nguyên tắc về các hoạt động có liên quan đến dòng chảy của sông Mê Kông.