CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
9951 Quản lý rủi ro trong hoạt động sử dụng ngân quỹ nhà nước / TS. Nguyễn Văn Quang, Ths. Nguyễn Khắc Tiệp // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 5-7 .- 332.1

Trình bày hoạt động sử dụng ngân quỹ Nhà nước;Phân loại rủi ro trong hoạt động sử dụng ngân quỹ nhà nước; Những hạn chế trong quản lý rủi ro hoạt động sử dụng ngân quỹ nhà nước; Giải pháp quản lý rủi ro hoạt động sử dụng ngân quỹ nhà nước.

9952 Quản lý nợ công của một số nền kinh tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam / Nguyễn Bích Thủy // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 28-30 .- 332.401

Một số cơ sở lý luận về nợ công; Kinh nghiệm quản lý nợ công của một số nước trên thế giới; Hàm ý chính sách cho Việt Nam.

9953 Thu hút vốn FDI vào phát triển đô thị công nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh / ThS.Tề Trí Dũng // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 57-60 .- 332.63

Thành tựu và bài học kinh nghiệm; Giải pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài dể phát triển hạ tầng công nghiệp.

9954 Nghiên cứu về chi trả lương hưu, trợ cấp xã hội qua hệ thống Bưu điện và đề xuất giải pháp / Nguyễn Thị Thu Hằng, Phan Trần Thủy Tiên/ // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 61-64 .- 332.4

Nghiên cứu khảo sát và xác định mức độ cảm nhận của người hưởng lương hưu trên địa bàn huyện Hóc Môn đối với công tác chi trả của bưu điện, đồng thời xác định những tồn tại cần được cải thiện, qua đó nâng cao công tác chi trả lương hưu, trợ cấp xã hội qua hệ thống bưu điện, tạo sự hài lòng ngày càng cao đối với người hưởng lương hư.

9955 Triển khai cơ chế tự chủ tại một số trường đại học Sư phạm Kỹ thuật / Vũ Thị Kim Thanh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 69-71 .- 332.1

Vài nét về các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật; Tình hình cung cấp dịch vụ giáo dục; Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục tại các trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật; Đề xuất và kiến nghị.

9956 Nợ công Việt Nam có thực sự đang ở mức an toàn? / Nguyễn Thị Lan // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 244 tháng 10 .- Tr. 2-12 .- 332.4

Bài nghiên cứu này dựa trên mô hình Cây nhị phân của Manasse và Roubini (2005) và khung nợ bền vững (DSF) của Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2012) để đánh giá tính an toàn, bền vững của nợ công Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tính an toàn của nợ công Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy: trong ngắn hạn, Việt Nam khó xảy ra khủng hoảng nợ công do các chỉ số phân tích đều thỏa mãn điều kiện an toàn nợ công của mô hình Cây nhị phân. Tuy nhiên, đánh giá các mức nợ công này theo DSF của IMF và WB (2012) thì nợ công Việt Nam hiện nay có độ rủi ro cao, thiếu bền vững khi có đến 2 chỉ số vượt ngưỡng cảnh báo của DSF (2012).

9958 Mô hình lực hấp dẫn theo kinh tế lượng không gian cho phân tích xuất khẩu gạo của Việt Nam / Nguyễn Thị Thanh Huyền // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 20-23 .- 382.7 597

Tổng quat về mô hình lực hấp dẫn; Mô hình lực hấp dẫn cho hoạt động xuất khẩu gạo theo kinh tế lượng không gian; Kết quả ước lượng; Hàm ý chính sách.

9959 Phát triển kinh tế phi chính thức tại TP. Hồ Chí Minh / TS. Phạm Xuân Thành // Tài chính - Kỳ 2 .- 2017 .- Số 667 tháng 10 .- Tr. 65-68 .- 330

Trình bày thực trạng doanh thu vỉa hè tại TP. Hồ Chí Minh, từ đó đưa ra một số khuyến nghị để TP. Hồ ChisMinh nói riêng và cả nước nói chung xây dựng chính sách phù hợp với loại hình kinh tế này.

9960 Đo lường tăng trưởng bao trùm: Tiếp cận từ góc độ doanh nghiệp ở Việt Nam / Phạm Thế Anh, Nguyễn Đức Hùng // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 244 tháng 10 .- Tr. 13-24 .- 330.959 791

Bài viết này nhằm đo lường tăng trưởng bao trùm thông qua đường cong tập trung và hàm cơ hội xã hội sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây. Kết quả tính toán chỉ ra rằng, tăng trưởng trong khu vực doanh nghiệp chưa thực sự có tính bao trùm. Đóng góp và hưởng thụ thành quả từ tăng trưởng chủ yếu thuộc về một số ít các doanh nghiệp lớn. Bên cạnh đó, cơ hội kinh tế trung bình có thể gia tăng nhưng tình trạng bất bình đẳng trong phân bổ cơ hội giữa doanh nghiệp nhỏ với doanh nghiệp lớn lại không được cải thiện. Ở góc độ chính sách, các kết quả này hàm ý Việt Nam cần có những chính sách phát triển hướng tới các nhóm doanh nghiệp nhỏ và yếu thế.