CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
9861 Đề xuất mô hình hợp tác “Công – Tư” (PPP) phù hợp cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội / GVC. TS. Vũ Kim Yến // Kinh tế Xây dựng .- 2017 .- Số 03 .- Tr. 19-26 .- 658

Khuyến nghị một số hình thức đầu tư PPP áp dụng hợp lý cho từng loại dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới.

9862 Xây dựng kế hoạch marketing của doanh nghiệp xây dựng trong xu hướng hội nhập quốc tế / ThS. Đặng Thế Hiến // Kinh tế Xây dựng .- 2017 .- Số 04 .- Tr. 27-31 .- 624

Trình bày những vấn đề chung về kế hoạch marketing trong xây dựng. Các giai đoạn xây dựng kế hoạch marketing của doanh nghiệp xây dựng.

9863 Kiểm soát tham nhũng và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Asean: Một tiếp cận thực nghiệm / Nguyễn Quốc Trâm, Hoàng Hồng Hiệp // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 31-37 .- 332.673091724

Sử dụng các mô hình kinh tế lượng, nghiên cứu này kiểm tra vai trò của việc kiểm soát tham nhũng trong thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các quốc gia ASEAN trong giai đoạn 1998- 2013. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng, sau khi kiểm soát các nhân tố về quy mô thị trường, sự ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng cơ sở hạ tầng và tỷ lệ lãi suất thực, chúng tôi đã tìm thấy bằng chứng ý nghĩa rằng, quốc gia kiểm soát tốt tham nhũng có thể góp phần thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Những kết quả thực nghiệm này cho phép chúng tôi gợi mở một số khuyến nghị chính sách nhằm giúp Việt Nam đẩy mạnh thu hút FDI trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực.

9864 Tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam / Lê Trung Thành, Đoàn Xuân Hậu, Nguyễn Bá Nhẫm // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 38-45 .- 332.1

Tự chủ tài chính là yếu tố quyết định đến việc phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm đầu ra của cơ sở giáo dục đại học. Trên cơ sở tổng hợp báo cáo tài chính của 10 trường có thời gian thực hiện thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ từ 2 năm trở lên, bài viết hướng đến làm rõ ảnh hưởng của NQ77 đến hoạt động tài chính và từ đó chỉ ra những thành tựu bước đầu các trường đã đạt được, những khó khăn và vướng mắc trong quá trình thực hiện, trên cơ sở đó đề xuất cơ chế chính sách thực hiện tự chủ đối với các cơ sở GDĐH công lập phù hợp với điều kiện Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.

9865 Phân tích thực trạng mức quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam bằng mô hình Jones điều chỉnh / Nguyễn Thị Phương Hồng // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 46-57 .- 657.42

Phân tích thực trạng quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014 bằng mô hình Jones điều chỉnh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam so với một số quốc gia khác trên thế giới qua các nghiên ở mức trung bình. Về thực trạng mức quản trị lợi nhuận giai đoạn 2012 - 2014, mức quản trị lợi nhuận tăng từ 2012 đến 2013, tuy nhiên, đến năm 2014, mức quản trị lợi nhuận giảm xuống đáng kể so với cả 2 năm 2012 và 2013. Ngoài ra, mức quản trị lợi nhuận giữa các ngành trong mỗi năm có sự khác nhau và cũng thay đổi qua mỗi năm.

9866 Mua sắm xã hội trực tuyến: Vai trò của động cơ xã hội / Nguyễn Hữu Khôi // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 58-67 .- 658.8 12

Các nghiên cứu trước đây chứng minh rằng động cơ tiện ích và tiêu khiển có tác động đến hành vi mua hàng trực tuyến. Trong bối cảnh mua sắm xã hội trực tuyến, người tiêu dùng còn có động cơ xã hội. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong quá khứ thường xem động cơ này là một khái niệm đơn hướng. Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây cũng chưa cung cấp hiểu biết sâu sắc về tác động tổng hợp của ba loại động cơ này đến ý định người tiêu dùng. Nghiên cứu này đề xuất và kiểm định ba thành phần của động cơ xã hội cũng như thảo luận và kiểm định tác động tổng hợp của ba loại động cơ đến ý định tham gia mua sắm xã hội trực tuyến. Dựa trên dữ liệu khảo sát từ 195 người tiêu dùng tại Khánh Hòa, kết quả phân tích cho thấy động cơ xã hội gồm ba thành phần như đề xuất và tác động tổng hợp của ba loại động cơ giải thích 51% ý định hành vi người tiêu dùng.

9867 Ảnh hưởng của chính sách tài chính tới chuỗi giá trị thủy sản tại Việt Nam / Phạm Thị Huyền, Đỗ Thị Phi Hoài // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 68-76 .- 332.1

Xuất khẩu thủy sản là ngành có tiềm năng phát triển của Việt Nam nhưng để tiềm năng đó trở thành hiện thực, rất cần sự vào cuộc của các cơ quan quản lý thông qua hệ thống chính sách, đặc biệt là chính sách tài chính khuyến khích sự tham gia của cá nhân, tổ chức vào chuỗi giá trị thủy sản. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, vấn đề tiếp cận vốn luôn rất khó khăn, với nguyên nhân chủ yếu là tiêu chuẩn cho vay chưa phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ, quy trình phức tạp, các tổ chức tín dụng chưa muốn đầu tư vào lĩnh vực thủy sản do rủi ro cao và thiếu các văn bản hướng dẫn kịp thời. Một số giải pháp được đề xuất liên quan tới việc cải thiện cơ chế cho vay, lựa chọn mô hình chuỗi giá trị phù hợp với điều kiện sản xuất nhỏ lẻ ở Việt Nam hay chính sách nhằm tăng cường hoạt động của chuỗi và quản lý chuỗi thông qua chính sách tài chính hy vọng sẽ giúp tăng cường hiệu quả hoạt động chuỗi, từ đó, khai thác được tiềm năng vốn có của ngành xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

9868 Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua sản phẩm lữ hành “online” của người tiêu dùng tại Hà Nội / Nguyễn Ngọc Đạt, Nguyễn Thanh Hiền, Đặng Bích Ngọc, Nguyễn Văn Duy // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 77-87 .- 658.8

Xác định và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới ý định mua sắm sản phẩm lữ hành “online” của người tiêu dùng Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu gồm điều tra bảng hỏi và sử dụng các phân tích dữ liệu đa biến (Cronbach Alpha test, EFA, CFA, SEM). Kết quả từ 548 khách hàng tại các quận nội thành Hà Nội cho thấy ý định mua sắm sản phẩm lữ hành online chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi (1) thái độ với dịch vụ, (2) tính hữu ích cảm nhận, (3) sự thuận tiện và gián tiếp bởi (4) an toàn thông tin, (5) tính dễ sử dụng cảm nhận và (6) sự tin tưởng. Nghiên cứu cũng đem lại hàm ý cho các nhà quản lý và các doanh nghiệp lữ hành để thúc đẩy ý định mua sắm các sản phẩm lữ hành online, các doanh nghiệp cần tập trung vào khai thác các ưu điểm của hệ thống bán hàng online dựa trên tính dễ sử dụng, tính hữu ích và tính thuận tiện của hệ thống cũng như đảm bảo an toàn thông tin khách hàng. Kết quả nghiên cứu cũng có những hạn chế nhất định về phương thức điều tra, quy mô địa bàn điều tra nên tính đại diện của nghiên cứu có thể bị ảnh hưởng.

9869 Ảnh hưởng của lạm phát đến độ biến động giá cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh / Võ Quốc Anh, Trương Đông Lộc // .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 88-95 .- 332.6409597

Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố lạm phát đến mức độ biến động giá của các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE). Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm chuỗi chỉ số VN-Index và chỉ cố giá tiêu dùng (CPI) theo tần suất tháng trong giai đoạn từ 7/2000 đến 01/2017. Kết quả ước lượng bằng mô hình GARCH cho thấy lạm phát có tác động nghịch biến đến mức độ biến động giá của cổ phiếu với một độ trễ thời gian. Tuy nhiên, kết quả ước lượng bằng mô hình EGARCH lại cho thấy lạm phát lại không có tác động đến độ biến động giá của cổ phiếu niêm yết trên HOSE.

9870 Đánh giá năng lực giảng viên kế toán để thực hiện đào tạo theo IFRS trong các trường đại học ở Việt Nam / Nguyễn La Soa, Trương Thanh Hằng // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 245 tháng 11 .- Tr. 96-104 .- 658.3

Đánh giá năng lực giảng viên giảng dạy kế toán theo IFRS, so sánh với năng lực thực tế của giảng viên hiện nay dựa trên kết quả khảo sát 214 giảng viên đang thực hiện giảng dạy môn kế toán ở các trường đại học Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các giảng viên đáp ứng khá tốt về ý thức rèn luyện, trách nhiệm với công việc, kỹ năng sư phạm và kiến thức chuyên môn. Tuy nhiên, mức độ đáp ứng với các năng lực rất quan trọng trong yêu cầu giảng dạy theo IFRS như: Ý thức sáng tạo, kỹ năng phán xét, kiến thức liên ngành, kiến thức ngoại ngữ thì chưa thực sự tốt, đồng thời mức đáp ứng có sự khác nhau tương đối giữa các nhóm giảng viên. Từ kết quả, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực giảng viên, đáp ứng yêu cầu giảng dạy kế toán theo IFRS.