CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
9481 Yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư về chất lượng dịch vụ tại các khu công nghiệp Bình Dương / Huỳnh Thái Yến Phương, Trần Ngọc Tú // Tài chính - Kỳ 2 .- 2018 .- Số 679 tháng 04 .- Tr. 108-110 .- 658.8
Trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Kết luận và kiến nghị.
9482 Các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam / ThS. Nguyễn Ngọc Thức, ThS. Hoàng Như Anh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2018 .- Số 679 tháng 04 .- Tr. 50-52 .- 332.64
Tổng quan vấn đề nghiên cứu; Mô hình nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
9483 Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Agribank / ThS. Nguyễn Thùy Trang // Tài chính - Kỳ 2 .- 2018 .- Số 679 tháng 04 .- Tr. 76-78 .- 332.12
Vài nét về dịch vụ ngân hàng điện tử ở Việt Nam; Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Agribank; Đẩy mạnh phát trienr dịch vụ ngân hàng điện tử tại Agribank.
9484 Phát triển bảo hiểm xã hội đa tầng để thực hiện an sinh xã hội toàn dân: Kinh nghiệm một số nước và khuyến nghị đối với Việt Nam / Nguyễn Thị Lan Hương, Mai Ngọc Cường // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 251 tháng 05 .- Tr. 2-9 .- 368
Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, bài viết khuyến nghị định hướng, mô hình, thiết kế hệ thống và khuyến nghị một số giải pháp chuyển từ bảo hiểm xã hội (BHXH) đa trụ cột (BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp (BHTNg), Bảo hiểm y tế (BHYT) hiện nay) sang phát triển BHXH đa tầng để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội (ASXH) toàn dân ở Việt Nam. Theo đó, ở tầng thứ nhất là BHXH cơ bản/tối thiểu/toàn dân, mở rộng đối tượng bao phủ đến toàn dân, thực hiện BHXH cho tất cả người lao động thuộc khu vực phi chính thức, BHXH cho lao động là nông dân, BHXH cho người lao động thuộc các nhóm đặc thù (trong tuổi lao động nhưng không tham gia lao động) và người ngoài tuổi lao động nhưng không có thu nhập để đảm bảo cuộc sống tuổi già. Tầng thứ 2 là BHXH bắt buộc/ BHXH dựa trên nguyên tắc đóng-hưởng, thực hiện BHXH bắt buộc đối với toàn bộ người lao động, không phân biệt hình thức việc làm và quan hệ lao động. Tầng thứ 3 là BHXH tự nguyện, thực hiện theo một số ngành nghề đặc thù, mục tiêu là để những người thu nhập cao tự nguyện mức đóng để hưởng chế độ hưu trí tăng thêm.
9485 Quan điểm và giải pháp đột phá về khắc phục các rào cản thể chế kinh tế đối với phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam đến năm 2030 / Đỗ Đức Bình // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 251 tháng 05 .- Tr. 10-20 .- 330
Thực tế phát triển của Việt Nam trong hơn 30 năm qua cho thấy thể chế kinh tế đã tạo ra nhiều động lực, đà mới thúc đẩy kinh tê-xã hội của Việt Nam phát triển và nhiều thành tựu đã được cộng đồng quốc tế công nhận. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy thể chế kinh tế hiện tại đang tạo ra nhiều rào cản đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, làm cho khoảng cách phát triển của Việt Nam và các nước trong khu vực ngày càng xa hơn. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học cấp nhà nước KX.01.03/16-20, bài viết sẽ làm rõ các rào cản chủ yếu về thể chế kinh tế như rào cản về hệ thống chính sách pháp luật, rào cản về tổ chức bộ máy và rào cản đối với các chủ thể tham gia thị trường và đề xuất 05 nhóm giải pháp đột phá để khắc phục các rào cản về thể chế kinh tế đối với phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam đến năm 2030.
9486 Tác động bất đối xứng của tỷ giá đến cán cân thương mại Việt Nam / Phạm Thị Tuyết Trinh // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 251 tháng 05 .- Tr. 21-32 .- 332.1
Nghiên cứu làm sáng tỏ tính bất đối xứng của tác động tỷ giá đến cán cân thương mại Việt Nam trong giai đoạn tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm 2016 bằng cách sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy theo tiếp cận đường bao của Pesaran & cộng sự (2001) dưới dạng phi tuyến tính. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá có tác động bất đối xứng đến cán cân thương mại trong cả ngắn và dài hạn. Trong dài hạn, tỷ giá tăng và giảm đều ảnh hưởng đến cán cân thương mại theo kỳ vọng nhưng tỷ giá giảm có tác động mạnh gấp 6 lần tỷ giá tăng. Trong ngắn hạn, tỷ giá tăng không ảnh hưởng đến cán cân thương mại trong khi tỷ giá giảm có ảnh hưởng rất mạnh. Hiệu ứng đường cong J cũng được tìm thấy dưới dạng toàn phần.
9487 Thương mại nội ngành và vai trò của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất Châu Á: Cách tiếp cận từ cấu trúc / Nguyễn Bình Dương // .- 2018 .- Số 251 tháng 05 .- Tr. 33-40 .- 332.1
Sự tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế cùng với việc giảm bớt các rào cản thương mại đã tạo động lực cho các quốc gia tham gia vào chuyên môn hóa sản xuất quốc tế. Bài viết này nghiên cứu thương mại nội ngành (IIT) của Việt Nam và các nước châu Á. Thông qua việc phân tích chỉ số IIT trong 10 nhóm hàng cơ bản theo tiêu chuẩn SITC- Rev 3, bài viết phân tích cấu trúc thương mại nội ngành của Việt Nam trong những nhóm hàng có chỉ số IIT cao nhất. Kết quả cho thấy, trong mạng lưới sản xuất khu vực, Việt Nam chuyên môn hóa ở nhóm hàng nguyên liệu thô và nhiên liệu, trong đó thương mại nội ngành diễn ra chủ yếu ở các mặt hàng: quặng kim loại, dầu khí, quả và hạt có dầu. Ngược lại, một số mặt hàng như: than, nứa và gỗ, bột giấy phần lớn là thương mại liên ngành. Phần cuối của bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách để Việt Nam vượt qua các thách thức nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai.
9488 Các nhân tố giảm phân bổ sai và tái phân bổ nguồn lực tại khu vực chế tác Việt Nam / Nguyễn Khắc Minh, Nguyễn Thị Phương // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 251 tháng 05 .- Tr. 41-50 .- 658.3
Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng chủ yếu của tự do hóa thương mại và kiểm soát tham nhũng tới giảm mức phân bổ sai nguồn lực, cũng như đóng góp của việc tái phân bổ nguồn lực từ các doanh nghiệp gia nhập, rút lui và sống sót tới tăng trưởng năng suất tập trung vào các doanh nghiệp chế tác Việt Nam. Chúng tôi áp dụng khung nghiên cứu của Hsieh & Klenow (2009) để tính toán mức phân bổ sai và phân rã năng suất động của Olley & Pakes (1996) để đánh giá sự đóng góp các doanh nghiệp gia nhập, rút lui và sống sót tới thay đổi năng suất gộp. Nghiên cứu tìm thấy rằng tự do hóa thương mại và kiểm soát tham nhũng làm giảm phân bổ sai nguồn lực và tỷ lệ đóng góp của các công ty sống sót tới năng suất gộp và năng suất nhân tố tổng hợp giảm 44% và 28% trong cả giai đoạn 2000-2013.
9489 Chất lượng quản trị công và giảm nghèo ở các huyện của Việt Nam / Trần Quang Tuyến, Lê Thiết Lĩnh // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 251 tháng 05 .- Tr. 51-59 .- 658
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp ước lượng ở phạm vi địa lý nhỏ để tính toán các chỉ số về mức sống và quản trị công ở các huyện của Việt Nam trong thời kỳ 2010-2014. Tiếp theo đó, chúng tôi áp dụng mô hình probit tỷ lệ với ước lượng tác động cố định (fixed-effect fractional probit) để đánh giá tác động của quản trị công tới giảm nghèo ở hai chỉ số là tỷ lệ nghèo và độ sâu của nghèo. Kết quả phân tích kinh tế lượng cho thấy các huyện có chất lượng quản trị công tốt sẽ có tỷ lệ nghèo và độ sâu của nghèo thấp hơn, sau khi đã kiểm soát về mức độ tăng trưởng chi tiêu và bất bình đẳng giữa các huyện. Điều đó hàm ý rằng quản trị công tốt có hai tác động quan trọng: thứ nhất, giảm tỷ lệ nghèo hay nói cách khác là giúp người nghèo thoát nghèo; thứ hai, giảm mức độ thiếu hụt của người nghèo hay nói cách khác là làm cho người nghèo bớt nghèo hơn. Kết quả trên hàm ý rằng chính quyền địa phương đóng vai trò tích cực trong giảm nghèo qua việc nâng cao chất lượng quản trị công.
9490 Huy động vốn đầu tư phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra / Nguyễn Thị Thu Cúc, Phạm Thị Thúy Hằng // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 251 tháng 05 .- Tr. 60-65 .- 658
Bài viết đánh giá và phân tích hai hình thức huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông, đó là huy động từ các nguồn vốn tư nhân, huy động từ các nguồn vốn nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn được coi là yếu tố quyết định đến phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam để thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn hẹp, nhu cầu về vốn phát triển hạ tầng giao thông ngày càng lớn nên việc xã hội hóa các kênh huy động vốn là yếu tố cấp thiết để giải quyết “bài toán” vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng giao thông ở Việt Nam trong thời gian tới.





