CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
9381 Ứng dụng các mô hình, công cụ định lượng phục vụ hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam / ThS. Nguyễn Thị Hòa // Ngân hàng .- 2018 .- Số 12 tháng 6 .- Tr. 9-14 .- 332.12
Sơ lược về các phương pháp phân tích trong giám sát và điều kiện ứng dụng các mô hình, công cụ định lượng phục vụ thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro; Một số mô hình, công cụ định lượng sử dụng trong thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro đã và đang được nghiên cứu, ứng dụng tại Việt Nam; Đánh giá khái quát về thực trạng ứng dụng các mô hình, công cụ định lượng phục vụ hoạt động thanh tra, giám sát trên cơ sở rủi ro tại NHNH Việt Nam; Một số khuyến nghị.
9382 Nâng cao vai trò của thành viên độc lập hội đồng quản trị trong các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam / TS.Nguyễn Văn Phương // Ngân hàng .- 2018 .- Số 12 tháng 6 .- Tr. 15-20 .- 332.12
Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên độc lập hhoij đồng quản trị (HĐQT) trong các ngân hàng TMCP; Cơ cấu HĐQT và các ủy ban giúp việc thuộc HĐQT trong ngân hàng TMCP; Vai trò của thành viên độc lập HĐQT trong quản trị, điều hành của ngân hàng TMCP; Một số kiến nghị.
9383 Tăng cường giám sát ngân hàng thương mại cho vay vốn các lĩnh vực có nhiều rủi ro / TS. Đặng Công Thức // Ngân hàng .- 2018 .- Số 12 tháng 6 .- Tr. 21-25 .- 332.12
Tổng quan vị trí nhóm ngân hàng thương mại trên thị trường chứng khoán Việt nam hiện nay; Chiến lược kinh doanh của ngân hàng thương mại và biến động cổ phiếu.
9384 Nợ xấu và hiệu quả chi phí, mô hình PVAR và phân tích quan hệ nhân quả Granger tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam / ThS. Châu Đình Linh // Ngân hàng .- 2018 .- Số 12 tháng 6 .- Tr. 26-31 .- 332.12
Nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ xấu và hiệu quả chi phí tại hệ thống NHTM Việt Nam qua mô hình PVAR tìm thấy: Nợ xấu và hiệu quả chi phí có mối quan hệ nhân quả Granger hai chiều; Tỷ lệ nợ xấu là nguyên nahn trực tiếp gây ra sự thay đổi của hiệu quả chi phí và mức độ giải thích lên tới hơn 28%. ...
9385 Lợi nhuận và khả năng sinh lời của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2014 đến nay / TS. Lê Thị lan Hương, ThS. Trương Thị Thu Hương // Ngân hàng .- 2018 .- Số 12 tháng 6 .- Tr. 32-36 .- 332.6409597
Tập trung phân tích tình hình lợi nhuận và khả năng sinh lời của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017, từ đó tác giả rút ra những đặc điểm chung về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam sau giai đoạn suy thoái kinh tế.
9386 Phát huy vai trò của ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam trong xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết XII của Đảng / TS. Trần Thị Ngọc Trâm // Ngân hàng .- 2018 .- Số 12 tháng 6 .- Tr. 40-46 .- 332.12
Quan điểm của Đảng trong nghị quyết Đại hội XII về xây dựng nông thôn mới; Chính sách triển khai của Chính phủ về xây dựng nông thôn mới; Thực trạng vai trò của Ngân hàng hành chính sách xã hội Việt Nam trong thực hiện xây dựng nông thôn mới theo Nghị quyết XII của Đảng và mục tiêu của Chính phủ; Một số khuyến nghị góp phần tiếp tục phát huy vai trò của Ngân hàng chính sách Xã hội VN trong xây dựng nông thôn mới thời gian tới.
9387 Xây dựng mô hình Sandbox trong quản lý Fintech : kinh nghiệm quốc tế và bài học gợi ý chính sách tại Việt Nam / TS. Tô Huy Vũ, ThS. Đoàn Mạnh Tú // Ngân hàng .- 2018 .- Số 12 tháng 6 .- Tr. 49-56 .- 658.001
Trình bày mô hình Sandbox trong quản lý Fintech; Kinh nghiệm quốc tế về áp dụng mô hình Sandbox trong quản lý Fintech; Gợi ý chính sách đối với Việt Nam.
9388 Ước lượng cầu sản phẩm cá cho trường hợp Việt Nam: Sự thay đổi trong kiểu hình tiêu dùng qua thời gian / Phạm Đình Long, Huỳnh Công Toại // Nghiên cứu Kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 29(2) tháng 2 .- Tr. 84-96 .- 330.01
Trình bày kết quả phân tích nhu cầu tiêu dùng thịt cá của hộ gia đình Việt Nam bằng mô hình LA/AIDS (Linear Approximated Almost Ideal Demand System). Nghiên cứu không chỉ dừng lại ở việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kiểu hình tiêu dùng thịt cá, mà còn phản ánh tính động trong khuynh hướng tiêu dùng qua thời gian. Kết quả ước lượng được thực hiện bằng phương pháp SUR qua thủ tục kiểm duyệt hai bước Heckman từ bộ dữ liệu chéo VHLSS năm 2010, 2012 và 2014. Các ràng buộc về tính đồng nhất và tính đối xứng được áp đặt trong mô hình ước lượng. Kết quả cho thấy thịt cá đã trở thành mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và phổ biến nhưng cầu lại co giãn nhiều hơn theo thu nhập. Tiêu dùng thịt cá ở thành thị có phần phản ứng nhạy cảm hơn trước sự biến động về giá so với khu vực nông thôn do khác biệt mặt bằng chung về giá. Các hộ gia đình thuộc nhóm giàu nhất bị tác động bởi sự thay đổi về giá mạnh hơn so với nhóm hộ thu nhập thấp.
9389 Bằng chứng mới về tác động bất đối xứng của thay đổi tỷ giá hối đoái lên giá chứng khoán Việt Nam / Huỳnh Thái Huy // Nghiên cứu Kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 29(2) tháng 2 .- Tr. 40-62 .- 332.6409597
Hầu hết các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và giá chứng khoán thường giả định sự điều chỉnh đối xứng giữa hai biến số. Mục đích nghiên cứu này nhằm kiểm chứng sự hiện diện tác động bất đối xứng của thay đổi tỷ giá hối đoái lên giá chứng khoán tại VN, sử dụng dữ liệu theo tháng giai đoạn 2001M01–2017M01 và phương pháp NARDL, phát triển bởi Shin và cộng sự (2014). Kết quả từ mô hình NARDL khẳng định sự tồn tại quan hệ đồng liên kết giữa các biến số, gồm giá chứng khoán, thành phần dương và âm của tỷ giá hối đoái, cung tiền và lạm phát. Thêm vào đó, các kết quả cũng chỉ ra giá chứng khoán phản ứng bất đối xứng trước sự tăng giá và giảm giá nội tệ; trong dài hạn, tác động của sự tăng giá nội tệ lên giá chứng khoán mạnh hơn tác động của sự giảm giá nội tệ.
9390 Kiểm chứng tác động của kiều hối tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam dựa trên mô hình ARDL / Phạm Thị Hoàng Anh, Phạm Đức Anh // Nghiên cứu Kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 29(2) tháng 2 .- Tr. 24-39 .- 330
Nghiên cứu thực hiện kiểm chứng tác động của dòng kiều hối tới tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Thông qua việc sử dụng mô hình ARDL cho chuỗi dữ liệu theo quý trong giai đoạn 1996–2016, nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ phi tuyến dạng chữ U ngược trong dài hạn giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam. Cụ thể, dòng kiều hối chảy vào ở một ngưỡng nhất định có thể kích thích tăng trưởng thông qua tăng cường vốn đầu tư và nhân lực, mở rộng hoạt động trung gian tài chính và thúc đẩy tiêu dùng. Tuy nhiên, nếu dòng kiều hối chảy vào vượt qua điểm ngưỡng đó, tác động trên sẽ chuyển hướng tiêu cực do có thể gây ra tâm lý ỷ lại và những hệ lụy của "căn bệnh Hà Lan". Ngoài ra, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về vai trò xúc tác của phát triển tài chính trong mối quan hệ giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam.





