CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
8541 Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tham gia Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương / Vũ Huy Giang // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2018 .- Số 515 tháng 4 .- Tr. 21-22 .- 658
Toàn cầu hóa là kết quả tất yếu của quá trình tự do hóa kinh tế và hội nhập quốc tế. Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương CPTPP sẽ mở ra một sân chơi mới với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5 phần trăm GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân. Ngoài ra, với tiêu chuẩn cao và đặt ra những quy định cho các vấn đề phi truyền thống như lao động, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, hiệp định này sẽ giảm thuế quan trong khu vực vốn chiếm tổng số là 10 nghìn tỉ USD trong nền kinh tế toàn cầu. Ngay cả khi không có Mỹ, thỏa thuận sẽ mở rộng thị trường rộng lớn, đưa CPTPP trở thành 1 trong 3 hiệp định thương mại lớn nhất thế giới. Bài viết đã làm rõ một số khía cạnh về thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay trong tiến trình hội nhập CPTPP.
8542 Sự khác biệt giữa công ty hợp vốn đơn giản tại các quốc gia Châu Âu với Việt Nam / Nguyễn Vinh Hưng // Nghiên cứu Châu Âu .- 2018 .- Số 211 .- Tr. 83-92 .- 658
Công ty hợp vốn đơn giản là loại hình công ty khá phổ biến trên thế giới. Nghiên cứu cho thấy, ban đầu các loại hình công ty này được hình thành tại Châu Âu và sau đó phát triển đến nhiều quốc gia khác trong đó Việt Nam. Tuy nhiên, các quy định hiện nay về công ty vốn đơn giản tại Việt Nam lại đang có nhiều điểm khác biệt so với công ty hợp vốn đơn giản tại Châu Âu.
8543 Nhà đầu tư tổ chức và thanh khoản cổ phiếu / Đặng Tùng Lâm, Hoàng Dương Việt Anh // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 2(489) tháng 2 .- Tr. 21-31 .- 332.63
Nghiên cứu ảnh hưởng của nhà đầu tư tổ chức đối với thanh khoản cổ phiếu. Sử dụng dữ liệu của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố HCM và Sở Giao dịch chứng khoán hà Nội trong thời gian 2007-2017, kết quả cho thấy nhà đầu tư tổ chức có ảnh hưởng nghịch chiều đối với thanh khoản cổ phiếu.
8544 Các nhân tố ảnh hưởng đến thời điểm phát hành lần đầu ra công chúng của doanh nghiệp Việt Nam / Nguyễn Thị Hoa Hồng, Cao Đinh Kiên, Nguyễn Bích Thùy // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 2(489) tháng 2 .- Tr. 32-42 .- 658
Trình bày tình hình các nhân tố ảnh hưởng đến thời điểm phát hành lần đầu ra công chúng, dữ liệu và phương pháp nghiên cứu,kết quả nghiên cứu., kết luận.
8545 Kiểm định sự ảnh hưởng của tâm lý kỳ thị đối với hành vi người mua nhà : nghiên cứu trên thị trường nhà ở Việt Nam / Nguyễn Thị Bích Hồng, Trương Thành Hiệp // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 2(489) tháng 2 .- Tr. 43-54 .- 658.4
Đánh giá tác động kiểm định sự ảnh hưởng của tâm lý kỳ thị đối với hành vi người mua nhà ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tâm lý kỳ thị …
8546 Nghiên cứu các yếu tố thực hiện thành công kiểm soát quá trình bằng thống kê trong doanh nghiệp / Phạm Việt Dũng, Nguyễn Quang Huy // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 2(489) tháng 2 .- Tr. 55-66 .- 658
Trình bày 6 yếu tố làm nên thành công của mỗi một chương trình kiểm soát quá trình bằng thống kê trong doanh nghiệp: cam kết của lãnh đạo cấp cao; làm việc nhóm; đào tạo và giáo dục về kiểm soát quá trình bằng thống kê; vai trò của bộ phận chất lượng; lưu trữ dữ liệu.
8547 Vốn hỗ trợ phát triển chính tức vào Vệt Nam giai đoạn 2010-2017 : nhìn từ cơ sở dữ liệu của các nhà tài trợ / Nguyễn Thị Vũ Hà // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 2(489) tháng 2 .- Tr. 3-10 .- 332.1
Phân tích thực trạng vốn hỗ trợ chính thức vào Việt Nam từ số liệu về tình hình thực hiện các dự án ở VN của các nhà tài trợ, thông qua hệ thống dữ liệu của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế.
8548 Công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu của các công ty niêm yết ở Việt Nam / Nguyễn Hữu Cường, Lê Thùy Trang // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 2(489) tháng 2 .- Tr. 11-20 .- 332.6322
Đánh giá mức độ công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu trên cả bảo cáo tài chính năm cũng như báo cáo tài chính giữa niên độ và các nhân tố có ảnh hưởng. Từ đó, bài viết đề xuất một số gợi ý nhằm cải thiện mức độ công bố thông tin về lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu trên báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Việt Nam.
8549 Đánh giá tác động của nợ công đến lạm phát ở Việt Nam / Đỗ Thị Thu Thủy, Nguyễn Thanh Tùng, Nguyễn Trung Kiên // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Tr. 11-20 .- 336.007 6
Bài viết tìm hiểu tác động của nợ công đến lạm phát của Việt Nam bằng phương pháp sử dụng mô hình kiểm định tính đồng liên kết và mô hình ARDL là sự kết hợp giữa mô hình tự hồi quy vecto (VAR) và mô hình bình phương nhỏ nhất (OLS) với dữ liệu nghiên cứu trong giai đoạn 2001 - 2017. Kết quả phân tích cho thấy (1) mức tăng nợ công trễ 1 năm có tác động tới mức tăng của lạm phát. (2) lạm phát có mối tương quan ngược chiều với nợ công và cụ thể làm bào mòn giá trị thực của nợ công trong giai đoạn nghiên cứu.(3) Việt Nam nên thận trọng với các khoản nợ, việc vay nợ cần phải có mục tiêu và chiến lược rõ rang, phải tính đến khả năng thu hồi vốn để chi trả nợ
8550 Tác động của quyết định tài chính tới rủi ro vốn cổ phần của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thị Vũ Khuyên, Nguyễn Văn Nam // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 362 tháng 4 .- Tr. 21-30 .- 332.1
Bài báo đánh giá tác động tổng hợp và riêng lẻ các quyết định tài chính doanh nghiệp tới rủi ro vốn cổ phần của doanh nghiệp. Kết quả từ phân tích mô hình các ảnh hưởng cố định (FEM) trên 420 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên 2 sàn HOSE và HNX (2010-2017) cho thấy tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu, tỷ suất sinh lời của vốn đầu tư, tỷ lệ lợi tức cổ tức có tác động mạnh mẽ tới rủi ro vốn cổ phần của doanh nghiệp. Nghiên cứu đã phát hiện thêm được mối quan hệ tương quan chặt chẽ giữa tỷ lệ nợ ngắn hạn và tỷ lệ nợ vay với rủi ro vốn cổ phần. Nhưng rất thú vị là khi các doanh nghiệp Việt Nam giảm nợ ngắn hạn đồng thời với tăng hiệu quả sử dụng vốn dài hạn và tăng tỷ lệ lợi tức cổ tức lại làm rủi ro vốn cổ phần tăng lên. Cuối cùng, một kết quả hiếm thấy trong tổng quan nghiên cứu là chỉ tiêu Sức sinh lợi cơ sở (BEP) lên sẽ làm rủi ro vốn cổ phần tăng.





