CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
8331 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến năng suất lao động tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 / Nguyễn Viết Thành, Lê Văn Đạo, Phí Mạnh Hồng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 23-33 .- 332.63
Bài nghiên cứu này đánh giá mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến việc nâng cao năng suất lao động, trong đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một nhân tố quan trọng. Căn cứ trên cách tiếp cận của Kumar & Russell (2002), thay đổi năng suất lao động được phân rã làm 3 thành phần: (i) Thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC); (ii) Thay đổi công nghệ chung (TC); (iii) Tăng trưởng vốn (KD). Trong khi, nhân tố tăng trưởng vốn (KD) đóng góp cho sự gia tăng năng suất trong giai đoạn đầu thì tăng trưởng công nghệ là chìa khóa của tăng trưởng bền vững. Nghiên cứu áp dụng tại Việt Nam cho giai đoạn 2011-2015 cho thấy có mối quan hệ tương quan giữa dòng vốn FDI và thay đổi hiệu quả kỹ thuật (TEC) trong việc nâng cao năng suất lao động. Bài nghiên cứu đưa ra một số chính sách quan trọng nhằm hướng đến phát triển bền vững tại Việt Nam.
8332 Mối quan hệ giữa tự chủ trong công việc, sở hữu tâm lý đối với công việc và hành vi cải tiến tại các doanh nghiệp ở Việt Nam / Phạm Thu Trang, Mai Thế Cường, Phạm Thuỳ Giang // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 34-42 .- 658
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan hệ giữa tự chủ trong công việc, sở hữu tâm lý đối với công việc và hành vi cải tiến. Kết quả khảo sát 432 người trả lời bảng hỏi cho thấy tự chủ trong công việc tác động tích cực đến sở hữu tâm lý đối với công việc, sau đó sở hữu tâm lý đối với công việc tác động tích cực đến hành vi cải tiến. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng sở hữu tâm lý đối với công việc là biến trung gian hoàn toàn cho mối quan hệ giữa tự chủ trong công việc và hành vi cải tiến. Bài báo kết thúc bằng thảo luận và hạn chế của nghiên cứu.
8333 Hiệu ứng Momentum, hiệu ứng đảo ngược ngắn hạn - Nghiên cứu thực nghiệm trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Võ Xuân Vinh, Võ Văn Phong // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 43-54 .- 332.64
Bài báo này xem xét sự tồn tại của hiệu ứng đảo ngược ngắn hạn, hiệu ứng momentum trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2017, bằng cách sử dụng phương pháp phân tích danh mục và phương pháp hồi quy dữ liệu chéo Fama-MacBeth. Kết quả cho thấy các cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi lũy tích cao hơn trong 06 tháng gần nhất thì có tỷ suất sinh lợi cao hơn trong tháng kế tiếp đó. Kết quả này hàm ý sự tồn tại của hiệu ứng momentum ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Chiến lược đầu tư theo hiệu ứng momentum ngắn hạn mang lại lợi nhuận khoảng 1,1% đến 1,3% mỗi tháng. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu lại không cung cấp bằng chứng ủng hộ sự tồn tại của hiệu ứng đảo ngược ngắn hạn, hiệu ứng momentum trung hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
8334 Việc làm công phi chính thức và bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình ở Việt Nam / Trần Quang Tuyến // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 4 .- Tr. 55-65 .- 330
Sử dụng bộ dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình năm 2016, kết hợp với phương pháp phân tách bất bình đẳng theo nguồn thu nhâp, nghiên cứu này đã lượng hóa đóng góp của thu nhập từ viêc làm công phi chính thức tới bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam. Kết quả chỉ ra rằng thu nhâp từ làm công phi chính thức làm giảm bất bình đẳng ở cả thành thị và nông thôn, cũng như ở tám vùng địa lý của Việt Nam. Tác động tương tự cũng được tìm thấy ở nguồn thu nhâp từ nông nghiệp. Trong khi đó, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp tự làm làm gia tăng đáng kể bất bình đẳng ở tất cả các vùng. Thu nhập từ làm công chính thức làm tăng nhiều tới bất bình đẳng ở mọi vùng, ngoại từ vùng Đông Nam Bộ. Kết quả nghiên cứu cung cấp một số hàm ý chính sách về giảm nghèo và bất bình đẳng ở Việt Nam.
8335 Cảm xúc tiêu cực của du khách nước ngoài khi đến Việt Nam: Nguyên nhân và hậu quả về mặt hành vi / Lê Nhật Hạnh // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 66-76 .- 658.812
Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu các trạng thái cảm xúc tiêu cực mà du khách nước ngoài gặp phải, nguyên nhân chính cũng như các hành vi phản ứng sau khi trải nghiệm cảm xúc tiêu cực. Phương pháp tiếp cận PLS-SEM (Partial Least Squares - Structural Equation Modeling) được dùng để kiểm định mô hình nghiên cứu với mẫu điều tra là 329 khách du lịch quốc tế đến Việt Nam. Kết quả cho thấy ‘mức độ nghiêm trọng của lỗi dịch vụ’ và ‘nhận định không xác thực’ có tác động làm tăng cảm xúc tiêu cực của khách du lịch. Trong khi đó ‘nỗ lực sửa đổi’ có tác dụng làm giảm các cảm xúc tiêu cực. Cảm xúc tiêu cực có tác động mạnh nhất đến ‘truyền miệng tiêu cực’, tiếp theo là ‘ý định tẩy chay’, và cuối cùng là ‘phàn nàn’. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để đưa ra hàm ý quản trị cho doanh nghiệp kinh doanh du lịch nói riêng cũng như đề xuất gợi ý chính sách cho cơ quan quản lý du lịch nói chung.
8336 Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số / Lê Thị Anh Vân // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 77-85 .- 330
Bài viết tập trung phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ đối với vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, bao gồm: các chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng; chính sách tín dụng hộ nghèo; các chính sách hỗ trợ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, cung cấp dịch vụ... và hỗ trợ trực tiếp, các chính sách hỗ trợ theo nhóm đối tượng, có chính sách chung và chính sách đặc thù. Các chính sách được phân tích trong giai đoạn 2016-2018. Quá trình thực hiện các chính sách này đã góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo đối với đồng bào vùng dân tộc thiểu số, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy những hạn chế, bất cập từ việc hoạch định đến tổ chức thực thi các chính sách này. Do đó, bài viết đề xuất một số định hướng và khuyến nghị giải pháp đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số trong thời gian tới.
8337 Phân rã thương mại nội ngành trong ngành da giày giữa Việt Nam và Trung Quốc / Nguyễn Bình Dương // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 86-95 .- 658
Ngành da giày là ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, góp phần tạo công ăn việc làm và đem lại nguồn ngoại tệ cho đất nước. Mặc dù là ngành xuất khẩu mũi nhọn, trên thị trường nội địa Việt Nam, phần lớn giày dép được nhập khẩu từ Trung Quốc. Bài viết này nhằm nghiên cứu thương mại nội ngành ngành da giày của Việt Nam và Trung Quốc, và thực hiện phân rã thương mại nội ngành theo chiều dọc và theo chiều ngang. Thông qua việc phân tích chỉ số thương mại nội ngành theo chiều ngang (HIIT) và thương mại nội ngành theo chiều dọc (VIIT) cho ngành da giày, trong các mặt hàng cơ bản theo tiêu chuẩn Danh mục phân loại thương mại quốc tế tiêu chuẩn, bản sửa đổi lần thứ 3 (SITC-Rev 3), kết quả cho thấy phần lớn thương mại nội ngành trong ngành da giày giữa Việt Nam và Trung Quốc là thương mại nội ngành theo chiều dọc. Việt Nam xuất siêu sang Trung Quốc ở một số sản phẩm như giày mũ các loại, và da trâu thuộc. Tuy nhiên, đối với hầu hết các nguyên vật liệu đầu vào, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc. Phần cuối của bài viết đề xuất một số hàm ý chính sách để Việt Nam vượt qua các thách thức nhằm phát triển ngành da giày hơn nữa trong tương lai.
8338 Tác động của đa dạng hóa cơ cấu cho vay đến rủi ro thị trường của các ngân hàng thương mại Việt Nam / Lê Thị Thu Diềm, Diệp Thanh Tùng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 264 tháng 6 .- Tr. 96-108 .- 332.12
Nghiên cứu xem xét tác động của sự đa dạng hóa cơ cấu cho vay theo ngành kinh tế đến rủi ro thị trường của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2016. Ước lượng GMM (Arellano & Bover, 1995) được sử dụng do tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi và vấn đề nội sinh. Kết quả thu được cho thấy mức độ đa dạng cơ cấu cho vay của các ngân hàng là cao. Tuy nhiên, mức độ đa dạng hóa trong cơ cấu cho vay càng cao thì tổn thất rủi ro thị trường ngân hàng càng lớn. Xét về mức độ tác động theo thời gian, việc đa dạng hóa có thể làm giảm rủi ro thị trường ngân hàng trong ngắn hạn, nhưng xét trong dài hạn thì sẽ làm tăng rủi ro ngân hàng. Ngoài ra, kết quả kiểm tra tác động từng ngành cho thấy hầu hết các ngành đều có sự tác động đồng biến với rủi ro thị trường, ngoài trừ ngành nông nghiệp do được hưởng nhiều chính sách ưu đãi trong điều kiện tín dụng.
8339 Mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước tại Việt Nam và hàm ý chính sách / Lê Thanh Tùng // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 4(491) .- Tr. 3-9 .- 332.63
Phân tích tổng quan mối quan hệ giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước tại Việt Nam trong giai đoạn 1995-2017. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động tích cực đến vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước tại Việt Nam. Beeb cạnh đó, bài viết cũng đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm gắn kết chặt chẽ hơn giữa vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước tại Việt Nam trong thời gian tới.
8340 An ninh việc làm : cách tiếp cận, đo lường và khung khổ chính sách / Nguyễn Thị Thanh Hương, Trần Minh, Bùi Việt Cường // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 4(491) .- Tr. 17-25 .- 658
Trình bày tình hình nghiên cứu an ninh việc làm của các học giả nước ngoài trên cơ sở các khái niệm liên quan với an ninh việc làm, vai trò và các yếu tổ ảnh hưởng an ninh việc làm, cách thức đo lường an ninh việc làm, các chính sách an ninh việc làm ở các nước phát triển và đang phát triển.





