CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
8181 Sử dụng phương pháp phi tham số trong đánh giá hiệu quả kinh doanh ngân hàng / Nguyễn Thu Nga, Đinh Hồng Linh // Kinh tế - Công nghiệp (Điện tử) .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 49-60 .- 332.12
Bài viết này tác giả đã sử dụng phương pháp phi tham số (DEA) để đánh giá hiệu quả kinh doanh của 30 ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam giai đoạn 2009-2015 có tính đến và không tính đến rủi ro tín dụng như một biến đầu vào của quá trình kinh doanh với giả định hiệu quả không thay đổi theo quy mô. Phương pháp phi tham số là phương pháp không đòi hỏi xác định một hàm số cụ thể khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, sự thay đổi của hiệu quả kinh doanh ngân hàng theo các chiều hướng giảm khi có sự tác động của rủi ro tín và rủi ro tín dụng làm giảm xếp hạng hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu.
8182 Các yếu tố ảnh hưởng tới ý định ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam / Phạm Thị Huyền, Vũ Thu Trang // .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 61-71 .- 658
Xu thế ứng dụng công nghệ đang ngày càng lan rộng tới mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế; và ứng dụng công nghệ trong sản xuất nông nghiệp trở thành yêu cầu bức thiết bởi vai trò quan trọng của nó đối với sự ổn định và phát triển của mỗi quốc gia, đặc biệt là an ninh lương thực cho các nước đang phát triển. Chính phủ Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm thúc đẩy phát triển nông nghiệp, trong đó chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, cho đến nay, tỷ lệ ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp vẫn còn thấp. Bài viết dựa trên kết quả khảo sát 273 hộ sản xuất trồng cây ăn trái thương phẩm ở cả ba miền Bắc - Trung - Nam và phát hiện, nhận thức về lợi ích của công nghệ là yếu tố chính thúc đẩy ý định ứng dụng trong khi văn hóa trồng trọt truyền thống và truyền thông là yếu tố chính cản trở ý định ứng dụng công nghệ trong trồng trọt.
8183 Đánh giá tác động tạo lập và chuyển hướng thương mại của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn điện ASEAN - Nhật Bản / Bùi Thị Hằng Phương // Những vấn đề kinh tế & chính trị thế giới .- 2018 .- Số 6 .- Tr. 17-29 .- 658
Bài viết nghiên cứu những tác động của Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) thông qua các mô hình định lượng. Các bằng chứng thống kê cho thấy Hiệp định AJCEP có tác động tạo lập thương mại thuần túy đối với xuất khẩu của các nước thành viên, tuy nhiên tác động này không lớn, chỉ ở mức 8,2% - thấp hơn nhiều so với tác động của các hiệp định thương mại tự do khác mà ASEAN đã ký kết. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong năm nhóm hàng hóa theo phân loại SITC-3, Hiệp định AJCEP có tác động tạo lập thương mại thuần túy ở nhóm mặt hàng chế tạo và hóa chất xuất khẩu và nhóm hàng nông nghiệp và nhiên liệu nhập khẩu, trong đó nhiên liệu là mặt hàng chịu tác động lớn nhất.
8184 Những vấn đề cơ bản trong chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và chính sách liên kết: So sánh quốc tế và hàm ý cho Việt Nam / Phạm Hồng Chương, Kenichi Ohno // .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 3-16 .- 658
Bài viết này trình bày tổng quan các vấn đề cơ bản cần được xem xét trong quá trình xây dựng chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và chính sách liên kết. Trước hết, bài viết so sánh thành quả kinh tế và chất lượng chính sách tại một số nước trong khu vực. Tiếp theo, nghiên cứu phân tích kinh nghiệm quốc tế về chính sách phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và chính sách liên kết đồng thời rút ra một số bài học cho Việt Nam.
8185 Tiếp cận hàm khoảng cách đối ngẫu và hàm sản xuất biên ngẫu nhiên phân tích tác động lan tỏa công nghệ tới hiệu quả doanh nghiệp: Ứng dụng vào ngành dệt may Việt Nam / Phùng Mai Lan, Nguyễn Khắc Minh // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 61-72 .- 658
Nghiên cứu này khác với các nghiên cứu về hiệu quả ở chỗ sử dụng hàm khoảng cách ngẫu nhiên đối ngẫu để xác định hiệu quả. Cũng bằng cách tiếp cận khác với cách xác định lan tỏa công nghệ đang được sử dụng phổ biến, bài viết này xây dựng cơ sở phương pháp luận cho việc xác định tập hợp các doanh nghiệp có khả năng lan tỏa công nghệ tốt nhất. Áp dụng hai tiếp cận này vào ngành dệt may Việt Nam, kết quả cho thấy ảnh hưởng của lan tỏa công nghệ mang lại hiệu ứng tốt nhất ở nhóm doanh nghiệp có giá trị hàm khoảng cách công nghệ nhỏ nhất (có hiệu quả cao nhất) trong khi nhóm doanh nghiệp có giá trị hàm khoảng cách công nghệ lớn nhất chỉ được hưởng lợi từ kênh lan tỏa ngược và ngược cung.
8186 Hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam / Đỗ Hải Hoàn // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 38-50 .- 658
Trên thế giới mô hình doanh nghiệp xã hội đã chứng minh được vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững và công bằng xã hội. Tuy nhiên, ở Việt Nam, hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội mới bắt đầu được hình thành nhằm thúc đẩy sự phát triển của mô hình này. Một số cơ quan/tổ chức nhà nước và tư nhân tham gia hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội và tạo ra những hoạt động thiết thực nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế và vấp phải nhiều khó khăn thách thức. Bài viết này là kết quả nghiên cứu thực trạng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam hiện nay với năm cấu phần cơ bản là: chính sách - pháp lý, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ trung gian, đào tạo - nghiên cứu và truyền thông. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển của hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xã hội ở Việt Nam.
8187 Những điều kiện để tầng lớp trung lưu có thể kiến tạo quản trị tốt tại các nước đang phát triển / Lê Kim Sa // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 30-37 .- 658
Sự gia tăng tầng lớp trung lưu có thể coi là những dấu hiệu tích cực ở các nước đang phát triển. Mặc dù vậy, bài viết phân tích sự gia tăng này phải phụ thuộc vào hai yếu tố ở từng nước đó là: có tỷ lệ dân số phù hợp không chỉ cao hơn chuẩn nghèo mà còn đủ cao để tạo thành một tầng lớp trung lưu ổn định về thu nhập, và tầng lớp trung lưu ngày càng lớn hơn và giàu hơn do tăng trưởng kinh tế trong vòng vài thập niên tới. Nói cách khác, tầng lớp trung lưu phải đủ lớn, và phải tiếp tục giàu có hơn và lớn hơn, như đã từng phát triển trong 15 năm qua, để đảm bảo vai trò tích cực của tầng lớp này đối với các vấn đề quản trị và chính sách công.
8188 Dòng vốn FDI có làm tăng năng suất lao động tại các quốc gia ASEAN-5? / Trần Văn Nguyện, Đỗ Thị Thu Hà // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 18-29 .- 332.1
Nghiên cứu nhằm ước lượng mối liên kết giữa dòng vốn ,FDI và năng suất lao động tại năm quốc gia Đông Nam Á (ASEAN-5) thông qua việc kết hợp các phương pháp kiểm định quan hệ nhân quả Granger. Phát hiện chính của nghiên cứu cho thấy rằng không có mối liên kết nhân quả dài hạn giữa năng suất lao động và dòng vốn FDI ở cả 5 quốc gia được nghiên cứu. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ có mối liên kết thuận chiều từ năng suất lao động đến dòng vốn FDI tại Philippines. Trong khi đó, tại các quốc gia bao gồm Việt Nam, Thái Lan, Indonesia và Malaysia, dòng vốn FDI có tác động tích cực trong ngắn hạn đến năng suất lao động.
8189 Thương mại giữa Việt Nam với các nền kinh tế Đông Bắc Á: Một cách tiếp cận từ mô hình trọng lực / Đồng Văn Chung, Phạm Thanh Hà, Trương Quang Hoàn // .- 2018 .- Số 5 .- Tr. 3-17 .- 658
Mục đích chính của bài viết này là xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đông Bắc Á, qua đó đánh giá tiềm năng thương mại giữa hai bên. Kết quả ước lượng với mô hình trọng lực mở rộng bằng phương pháp PPML giai đoạn 2001-2017 cho thấy quy mô nền kinh tế mức độ phát triển thị trường, tỷ giá hối đoái, khoảng cách kinh tế và các dạng thức của hiệp định thương mại tự do có tác động lớn đến thương mại giữa Việt Nam và Đông Bắc Á. Trong khi đó, sự gần kề về địa lý và thành viên của WTO không trợ giúp cho các hoạt động thương mại song phương. Đối với tiềm năng thương mại, Việt Nam gần như tiệm cận giới hạn khả năng đối với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Hồng Công, tuy nhiên vẫn còn nhiều không gian phát triển đối với Đài Loan.
8190 Giải pháp tăng cường hoạt động huy động vốn tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Long An / Phạm Thị Thanh Hòa // Kinh tế - Công nghiệp (Điện tử) .- 2018 .- Số 19 .- Tr. 51-55 .- 332.1
Quỹ Đầu tư phát triển địa phương đã và đang trở thành một công cụ tài chính quan trọng giúp chính quyền địa phương tập trung nguồn lực đầu tư vào kết cấu hạ tầng, bao gồm huy động vốn và liên kết với khu vực tư nhân. Hiện nay kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Thời gian qua Chính phủ luôn khuyến khích các địa phương chủ động huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đô thị, góp phần tạo thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, thúc đẩy kinh tế - xã hội. Trong đề tài này tác giả thực hiện phân tích thực trạng về huy động vốn, từ đó đề ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn tại Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Long An trong thời gian tới.





