CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
7191 Yêu cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính hiện nay / Nguyễn Tuấn Anh, Tô Hiến Thà // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 56-58 .- 658
Quản lý tài chính là quá trình tác động của nhà nước đến các nguồn tài chính nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước một cách hiệu quả nhất. Việc quản lý sử dụng nguồn tài chính tại các cơ quan hành chính liên quan trực tiếp đến hiệu quả của tài chính nhà nước, do đó đòi hỏi phải có sự quản lý nhằm cho bộ máy quản lý hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của các tổ chức và công dân. Công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính Nhà nước cần đáp ứng một số yêu cầu và thường xuyên chịu sự tác động của các nhân tối sau.
7192 37 chỉ số đo lường hiệu suất hoạt động marketing số / Trần Thị Nhung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 59-61 .- 658
Thống kê qua các năm, chi phí cho marketing truyền thống đã bị cắt giảm đi 160%, trong khi đó chi phí marketing số lại tăng lên 14% chứng tỏ các doanh nghiệp đang tăng dần ngân sách của mình cho marketing số nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng biết cách đo lường hiệu suất của hoạt động này. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả sẽ tổng hợp và phân loại các chỉ tiêu đo lường hiệu suất của hoạt động marketing số thành các nhóm chỉ số, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc lựa chọn chỉ số đánh giá cũng như phân tích hiệu quả của hoạt động marketing số.
7193 Tiềm năng tài nguyên biển Việt Nam / Bùi Hoàng Trung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 67-69 .- 658
Biển và đại dương được xem là giàu tài nguyên thiên nhiên, là không gian sinh tồn của loài người. Tổng giá trị của "nguồn vốn tự nhiên" của biển ước tính đạt ít nhất 24.000 tỷ USD và tổng sản lượng biển hàng năm (GMP) - tương đương với tổng sản lượng quốc nội của quốc gia (GDP) - tối thiểu là 2,5 nghìn tỷ USD. Trên toàn thế giới, khoảng 3 tỷ người có nguồn sinh kế phụ thuộc vào biển và các nguồn lợi từ biển đóng góp 5% GDP toàn cầu. Rõ ràng, tương lai của loài người phụ thuộc rất lớn vào biển, nhất là khi dân số đã vượt mức 7 tỷ người và các nguồn lực trên đất liền dần cạn kiệt hoặc bị ô nhiễm.
7194 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính khu vực công: trường hợp các doanh nghiệp nhà nước / Nguyễn Anh Hiền // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 73-75 .- 658
Báo cáo tài chính là một trong những kênh thông tin để giám sát hoạt động của một doanh nghiệp. Tuy nhiên chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước hiện nay được đánh giá chưa cao. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước là: kiểm soát nội bộ, sự tồn tại của bộ phận kiểm toán nội bộ và việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế.
7195 Phát triển nền kinh tế xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 70-72 .- 658
Việt Nam đã nhận thức được các yếu tố môi trường, xã hội trong phát triển bền vững kinh tế, do đó, chính phủ đã và sẽ tích hợp yêu cầu nền kinh tế xanh vào các chiến lược, kế hoạch tăng trưởng kinh tế cũng như tái cấu trúc lại nền kinh tế đảm bảo hiệu quả hơn, tăng tính cạnh tranh trong khu vực và hướng ra toàn cầu. Việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, thực hiện tăng trưởng xanh là hết sức cần thiết và phù hợp với xu thế chung hiện nay, trong bối cảnh giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, khôi phục hệ sinh thái, tăng nguồn vốn tự nhiên, bảo vệ môi trường và tăng phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo.
7196 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định nhận lương hưu qua tài khoản ngân hàng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh / Huỳnh Khả Ái // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 76-78 .- 658
Trên cơ sở vận dụng lí thuyết hành động hợp lí (TRA), thuyết hành vi kiểm soát cảm nhận (TPB), kế thừa mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và cơ sở lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước làm nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến tác động: Nhận thức sự hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức sự tín nhiệm, chuẩn chủ quan, cảm nhận sự thuận tiện, cảm nhận rủi ro, thái độ và các biến định tính như: giới tính, độ tuổi, dân tộc, đã từng sử dụng máy ATM hay chưa. Để phân tích độ tin cậy và các giá trị của đo lường, nghiên cứu sử dụng mô hình với số lượng mẫu nghiên cứu gồm 193 phiếu khảo sát thu thập từ người hưởng lương hưu trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Kết quả cho thấy được độ tin cậy và giá trị của các đo lường với sự phù hợp của mô hình nghiên cứu giải thích bởi các biến: Cảm nhận sự thuận tiện, Cảm nhận rủi ro, Thái độ, Chuẩn chủ quan, Giới tính và Dân tộc.
7197 Cải cách công tác quản lý thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế / Hoàng Việt Hà // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 540 .- Tr. 10-12 .- 658
Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi công tác quản lý thị trường phải thay đổi cả tầm tư duy, công cụ cũng như phương cách tác động vào nền kinh tế. Bài viết này trao đổi về những tác động của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đến công tác quản lý thị trường; cũng như cải cách và đổi mới cần thiết trong công tác này để thích ứng với tiến trình hội nhập.
7198 Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương: vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với Việt Nam / Đặng Viết Tiến, Lê Danh Lượng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 540 .- Tr. 7-9 .- 330
Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức được ký kết tại Chile. Trong hiệp định này vấn đề sở hữu trí tuệ (SHTT) là điều đáng lo ngại nhất đối với Việt Nam. Ở Việt Nam, tình tạng xâm phạm SHTT hiện khá phổ biến và ngày càng phức tạp. Trong CPTPP với 10 điều (trong 20 điều) liên quan đến SHTT được các quốc gia đưa vào thỏa thuận. Bài viết này tập trung vào các cam kết liên quan đến việc thực thi các quyền SHTT trong chương 18 của CPTPP.
7199 Các rào cản phát triển các mô hình thương mại điện tử Việt Nam trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0 / Nguyễn Thị Thanh Thư // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 540 .- Tr. 4-6 .- 658
Cách mạng công nghệ 4.0 với việc áp dụng công nghệ thông tin trong kinh tế đem lại những lợi ích to lớn. Trong đó, thương mại điện tử là lĩnh vực có được nhiều lợi ích rõ ràng nhất như chia sẻ tài nguyên vốn hữu hạn thông qua các dịch vụ chia sẻ của uber, grab, hay cá nhân hóa dịch vụ giao vận như các dịch vụ của Delivery Now, Giaohangtietkiem... Không chỉ vậy, thương mại điện tử cung cấp thông tin phong phú, giúp giảm chi phí sản xuất, giảm phí bán hàng và tiếp thị, giảm phí giao dịch,.. Tuy nhiên, quá trình phát triển các mô hình thương mại điện tử Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại khi thực hiện tại Việt Nam. Chính vì vậy, bài báo sẽ đánh giá thực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam để nhận diện và phân tích những khó khăn khi phát triển các mô hình thương mại điện tử Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0.
7200 Tín dụng ngân hàng đối với phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam / Nguyễn Văn Nhật // .- 2020 .- Số 724 .- Tr. 63– 66 .- 332.04
Phát triển ngành Công nghiệp có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất, kỹ năng lao động, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cho sản phẩm và chất lượng cho nền kinh tế Việt Nam. Ngành Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam tuy đã có những bước nhất định, song chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do nguồn vốn tín dụng ngân hàng dành cho ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Để giải quyết vấn đề này cần triển khai đồng bộ các giải pháp, tăng cường nguồn vốn tín dụng phát triển Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam.





