CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
7191 Lựa chọn mô hình dự báo mức độ lao động của thị trường chứng khoán Việt Nam / Trần Ngọc Mai // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 53-55 .- 332.64

Nghiên cứu của tác giả tập trung tìm kiếm mô hình định lượng phù hợp nhất để đo lường và dự báo mức độ dao động của thị trường chứng khoán, một trong những chỉ số quan trọng của thị trường tài chính. Tác giả thấy rằng mô hình EGAPCH(1,1) là mô hình phù hợp để dự báo độ dao động của thị trường chứng khoán Việt Nam.

7192 Đặc trưng các hoạt động cơ bản của kinh doanh đa cấp / Nguyễn Hưng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 65-66 .- 658

Sự ra đời của ngành Marketing đa cấp (MLM - Multi-Level Marketing) gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ Carl Renborg (1887-1973). Ông là người đầu tiên đã ứng dụng được ý tưởng MLM vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinh doanh được gọi là có triển vọng nhất trong thế kỉ 21. Phương pháp phân phối hàng của Renborg chính là khởi điểm của ngành MLM, ở đây ông chỉ mới áp dụng 1 tầng, và trong nhiều tài liệu thì năm 1940 là năm khởi đầu của MLM và Renborg được coi là ông tổ của ngành kinh doanh này.

7193 Yêu cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính hiện nay / Nguyễn Tuấn Anh, Tô Hiến Thà // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 56-58 .- 658

Quản lý tài chính là quá trình tác động của nhà nước đến các nguồn tài chính nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước một cách hiệu quả nhất. Việc quản lý sử dụng nguồn tài chính tại các cơ quan hành chính liên quan trực tiếp đến hiệu quả của tài chính nhà nước, do đó đòi hỏi phải có sự quản lý nhằm cho bộ máy quản lý hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của các tổ chức và công dân. Công tác quản lý tài chính tại các cơ quan hành chính Nhà nước cần đáp ứng một số yêu cầu và thường xuyên chịu sự tác động của các nhân tối sau.

7194 37 chỉ số đo lường hiệu suất hoạt động marketing số / Trần Thị Nhung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 59-61 .- 658

Thống kê qua các năm, chi phí cho marketing truyền thống đã bị cắt giảm đi 160%, trong khi đó chi phí marketing số lại tăng lên 14% chứng tỏ các doanh nghiệp đang tăng dần ngân sách của mình cho marketing số nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng biết cách đo lường hiệu suất của hoạt động này. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả sẽ tổng hợp và phân loại các chỉ tiêu đo lường hiệu suất của hoạt động marketing số thành các nhóm chỉ số, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc lựa chọn chỉ số đánh giá cũng như phân tích hiệu quả của hoạt động marketing số.

7195 Tiềm năng tài nguyên biển Việt Nam / Bùi Hoàng Trung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 67-69 .- 658

Biển và đại dương được xem là giàu tài nguyên thiên nhiên, là không gian sinh tồn của loài người. Tổng giá trị của "nguồn vốn tự nhiên" của biển ước tính đạt ít nhất 24.000 tỷ USD và tổng sản lượng biển hàng năm (GMP) - tương đương với tổng sản lượng quốc nội của quốc gia (GDP) - tối thiểu là 2,5 nghìn tỷ USD. Trên toàn thế giới, khoảng 3 tỷ người có nguồn sinh kế phụ thuộc vào biển và các nguồn lợi từ biển đóng góp 5% GDP toàn cầu. Rõ ràng, tương lai của loài người phụ thuộc rất lớn vào biển, nhất là khi dân số đã vượt mức 7 tỷ người và các nguồn lực trên đất liền dần cạn kiệt hoặc bị ô nhiễm.

7196 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính khu vực công: trường hợp các doanh nghiệp nhà nước / Nguyễn Anh Hiền // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 73-75 .- 658

Báo cáo tài chính là một trong những kênh thông tin để giám sát hoạt động của một doanh nghiệp. Tuy nhiên chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước hiện nay được đánh giá chưa cao. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam. Áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhà nước là: kiểm soát nội bộ, sự tồn tại của bộ phận kiểm toán nội bộ và việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế.

7197 Phát triển nền kinh tế xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 70-72 .- 658

Việt Nam đã nhận thức được các yếu tố môi trường, xã hội trong phát triển bền vững kinh tế, do đó, chính phủ đã và sẽ tích hợp yêu cầu nền kinh tế xanh vào các chiến lược, kế hoạch tăng trưởng kinh tế cũng như tái cấu trúc lại nền kinh tế đảm bảo hiệu quả hơn, tăng tính cạnh tranh trong khu vực và hướng ra toàn cầu. Việc chuyển đổi sang mô hình kinh tế xanh, thực hiện tăng trưởng xanh là hết sức cần thiết và phù hợp với xu thế chung hiện nay, trong bối cảnh giảm thiểu tác động biến đổi khí hậu, khôi phục hệ sinh thái, tăng nguồn vốn tự nhiên, bảo vệ môi trường và tăng phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo.

7198 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định nhận lương hưu qua tài khoản ngân hàng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh / Huỳnh Khả Ái // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 76-78 .- 658

Trên cơ sở vận dụng lí thuyết hành động hợp lí (TRA), thuyết hành vi kiểm soát cảm nhận (TPB), kế thừa mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và cơ sở lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước làm nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến tác động: Nhận thức sự hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức sự tín nhiệm, chuẩn chủ quan, cảm nhận sự thuận tiện, cảm nhận rủi ro, thái độ và các biến định tính như: giới tính, độ tuổi, dân tộc, đã từng sử dụng máy ATM hay chưa. Để phân tích độ tin cậy và các giá trị của đo lường, nghiên cứu sử dụng mô hình với số lượng mẫu nghiên cứu gồm 193 phiếu khảo sát thu thập từ người hưởng lương hưu trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Kết quả cho thấy được độ tin cậy và giá trị của các đo lường với sự phù hợp của mô hình nghiên cứu giải thích bởi các biến: Cảm nhận sự thuận tiện, Cảm nhận rủi ro, Thái độ, Chuẩn chủ quan, Giới tính và Dân tộc.

7199 Cải cách công tác quản lý thị trường trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế / Hoàng Việt Hà // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 540 .- Tr. 10-12 .- 658

Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi công tác quản lý thị trường phải thay đổi cả tầm tư duy, công cụ cũng như phương cách tác động vào nền kinh tế. Bài viết này trao đổi về những tác động của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đến công tác quản lý thị trường; cũng như cải cách và đổi mới cần thiết trong công tác này để thích ứng với tiến trình hội nhập.

7200 Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương: vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ đối với Việt Nam / Đặng Viết Tiến, Lê Danh Lượng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 540 .- Tr. 7-9 .- 330

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức được ký kết tại Chile. Trong hiệp định này vấn đề sở hữu trí tuệ (SHTT) là điều đáng lo ngại nhất đối với Việt Nam. Ở Việt Nam, tình tạng xâm phạm SHTT hiện khá phổ biến và ngày càng phức tạp. Trong CPTPP với 10 điều (trong 20 điều) liên quan đến SHTT được các quốc gia đưa vào thỏa thuận. Bài viết này tập trung vào các cam kết liên quan đến việc thực thi các quyền SHTT trong chương 18 của CPTPP.