CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
7181 Đánh giá cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu đối với du lịch vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong hội nhập quốc tế / Hồ Thị Minh Phương, Nguyễn Trung Kiên // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 544 .- Tr. 14-16 .- 330

Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (KTTĐMT) nằm ở khoảng giữa đất nước, trải dài theo chiều Bắc - Nam, lãnh thổ của vùng kéo dài từ 16045' Bắc đến 13030' Bắc và từ 107002' Đông đến 109019' Đông. Vùng KTTĐMT bao gồm năm tỉnh: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định. Với tổng diện tích tự nhiên là 27.960,3km2 chiếm khoảng 29,1% diện tích tự nhiên của vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ và chiếm 8,4% diện tích tự nhiên của cả nước, dân số khoảng 6.415,9 nghìn người chiếm khoảng 7,4% dân số cả nước với mật độ dân số khoảng 215 người/km2 (2015). Bài viết phân tích trong hội nhập quốc tế du lịch (DL) vùng KTTĐMT có những cơ hội, thách thức, điểm mạnh và điểm yếu.

7182 Các xu hướng quản trị đại học theo mô hình doanh nghiệp và hàm ý cho Việt Nam / Phùng Thế Vinh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 544 .- Tr. 23-25 .- 658

Giáo dục đại học Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng với những tiến bộ của khoa học công nghệ cũng như sự cạnh tranh do nỗ lực vận dụng cơ chế thị trường. Cải thiện chất lượng quản trị đại học theo lĩnh vực tiên tiến, hiện đại đang được kỳ vọng là đòn bẩy quan trọng để cải thiện chất lượng trong mọi lĩnh vực của giáo dục đại học nếu các cơ sở giáo dục không muốn mất ưu thế ngay trên sân nhà. Với Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học vừa được thông qua đã giúp hoàn chỉnh khung pháp lý cho việc đổi mới công tác quản trị các cơ sở giáo dục đại học.

7183 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh / Đàm Đức Quang // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 544 .- Tr. 26-28 .- 330

Công nghiệp xanh là nền công nghiệp thân thiện với môi trường, là nền công nghiệp sản xuất ra các sản phẩm thân thiện với môi trường và giúp cho các điều kiện tự nhiên của môi trường tốt hơn, trong toàn bộ quá trình sản xuất nó giảm thiểu tối đa tác động xấu tới môi trường. Việc thực hiện phát triển CNX đòi hỏi một khung chính sách hỗ trợ, xây dựng năng lực, công nghệ xanh dễ tiếp cận và phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp, tạo nguồn vốn thích hợp. Bài viết tập trung phân tích các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới sự phát triển công nghiệp theo hướng tăng trưởng xanh, tập trung vào các nhân tố như thể chế, nguồn lực con người, tài chính và một số các nhân tố khác.

7184 Nghiên cứu mô hình quản trị công ty cổ phần có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị và một số khuyến nghị cho Việt Nam / Đinh Văn Thông // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 544 .- Tr. 29-31 .- 658

Trong mô hình công ty cổ phần, công tác giám sát là một bộ phận quan trọng trong hoạt động của công ty. Hiện nay, đa phần các nước áp dụng mô hình quản trị công ty và Hội đồng quản trị sẽ trực tiếp thực hiện chức năng giám sát hoạt động điều hành doanh nghiệp với sự hỗ trợ của các tiểu ban trực thuộc, trong đó có Tiểu ban Kiểm toán nội bộ. Tại Việt Nam, công tác Kiểm toán nội bộ đã được triển khai tại một số doanh nghiệp theo mô hình quản lí hiện đại theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên để thúc đẩy quá trình này, đòi hỏi phải xây dựng các giải pháp dài hạn, từ xây dựng khuôn khổ pháp lý, hoàn thiện thể chế, cho đến điều kiện toàn bộ máy và đào tạo nguồn nhân sự cho công ty...

7185 Vấn đề thuê dịch vụ làm kế toán, kế toán trưởng, phụ trách kế toán tại doanh nghiệp / Trần Thị Mây, Vũ Thị Phượng // Tài chính - Kỳ 1 .- 2020 .- Số 724 .- Tr. 101– 103 .- 657

Thuê dịch vụ làm kế toán, dịch vụ làm kế toán trưởng, phụ trách kế toán là hoạt động bình thường tại doanh nghiệp nhằm đáp ứng các yêu cầu, quy mô, và sức khoẻ tài chính của mỗi doanh nghiệp. Hiện nay, xu hướng thuê dịch vụ làm kế toán, dịch vụ làm kế toán trưởng ngày càng phổ biến hơn và hoạt động này được quy định rõ tại các văn bản pháp luật. Bài viết trao đổi, hệ thống hoá lại một số qui định liên quan đến hoạt động thuê dịch vụ làm kế toán, dịch vụ làm kế toán trưởng, phụ trách kế toán để cộng đồng doanh nghiệp nắm rõ và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

7186 Về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên tại Việt Nam / Nguyễn Thị Hải Vân // .- 2020 .- Số 724 .- Tr. 124 – 126 .- 657

Nghề kế toán có đặc điểm khá đặc biệt, đó là cung cấp dịch vụ có thu phí từ khách hàng nhưng để bảo vệ lợi ích của công chúng. Do vậy, trách nhiệm của kiểm toán viên hành nghề không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng các nhu cầu của khách hàng đơn lẻ hoặc doanh nghiệp, nơi kiểm toán viên hành nghề cung cấp dịch vụ mà còn phải nắm được và tuân thủ các qui định của chuẩn mực đạo đức vì lợi ích của công chúng. Dựa trên các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên và những kết quả triển khai trong thời gian qua, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên trong thời gian tới.

7187 Vai trò, trách nhiệm của kế toán, kiểm toán trong lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia / Đặng Văn Thanh // .- 2020 .- Số 726 .- Tr.10 – 13 .- 657

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế của đất nước kế toán, kiểm toán Việt Nam đã và đang tiếp cận với nguyên tắc, chuẩn mực và thông lệ quốc tế và tham gia tích cực vào việc phát triển nghề nghiệp kế toán trong khu vực và thế giới. Trong nền kinh tế thị trường, đa thành phần, đa sở hữu, nền kinh tế mở và hội nhập kế toán, kiểm toán Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng, đặc biệt là sự đổi mới về trách nhiệm, nghĩa vụ của kế toán, kiểm toán, của nghề nghiệp và người làm kế toán với sự lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia và chất lượng quản trị đất nước.

7188 Kinh nghiệm phát triển nguồn thu quỹ bảo hiểm y tế ở một số nước và bài học cho Việt Nam / Nguyễn Thị Chính // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 50-52 .- 658

Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) là nguồn tài chính quan trọng của mỗi quốc gia nhằm chi trả chi phí khám chữa bệnh cho nhân dân khi họ bị ốm đau bệnh tật, từ đó đảm bảo an sinh xã hội bền vững. Vậy làm thế nào để có nguồn quỹ BHYT đủ để chi trả, vấn đề nguồn thu quỹ BHYT đảm bảo chi và cân đối quỹ BHYT luôn được quan tâm hàng đầu. Bài viết nghiên cứu việc phát triển nguồn thu quỹ BHYT ở một số nước như: Đức, Nhật, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

7189 Lựa chọn mô hình dự báo mức độ lao động của thị trường chứng khoán Việt Nam / Trần Ngọc Mai // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 53-55 .- 332.64

Nghiên cứu của tác giả tập trung tìm kiếm mô hình định lượng phù hợp nhất để đo lường và dự báo mức độ dao động của thị trường chứng khoán, một trong những chỉ số quan trọng của thị trường tài chính. Tác giả thấy rằng mô hình EGAPCH(1,1) là mô hình phù hợp để dự báo độ dao động của thị trường chứng khoán Việt Nam.

7190 Đặc trưng các hoạt động cơ bản của kinh doanh đa cấp / Nguyễn Hưng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 543 .- Tr. 65-66 .- 658

Sự ra đời của ngành Marketing đa cấp (MLM - Multi-Level Marketing) gắn liền với tên tuổi của nhà hóa học người Mỹ Carl Renborg (1887-1973). Ông là người đầu tiên đã ứng dụng được ý tưởng MLM vào trong cuộc sống, tạo ra một hệ thống kinh tế, một ngành kinh doanh được gọi là có triển vọng nhất trong thế kỉ 21. Phương pháp phân phối hàng của Renborg chính là khởi điểm của ngành MLM, ở đây ông chỉ mới áp dụng 1 tầng, và trong nhiều tài liệu thì năm 1940 là năm khởi đầu của MLM và Renborg được coi là ông tổ của ngành kinh doanh này.