CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
6151 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài sán công / Nguyễn Tân Thịnh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.13 - 16. .- 332

Tài sản công là cơ sở vật chất để các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao, đồng thời là nguồn lực tài chính có thể khai thác được để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, việc quản lý tài sản công có vai trò hết sức quan trọng, tuy nhiên để đánh giá thực chất công tác quản lý tài sản công, trức hết cần phải xây dựng các tiêu chí đánh giá. Bài viết đánh giá thực trạng công tác này trong thời gian qua, đồng thời, đề xuất hướng xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài sán công ở Việt Nam.

6152 Cơ chế điều hành giá tại dự thảo sửa đổi bổ sung nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu / Ngô Trí Trung // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Số 743 .- 330

Sau hơn 5 năm triển khai nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu (có hiệu lực từ tháng 11/2014), bên cạnh những kết quả đạt được đã được đã phát sinh một số bất cập do sự thay đổi khách quan của các yếu tố kinh tế, xã hội. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ , Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Tài Chính và các đơn vị liên quan triển khai xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung và đã hoàn thiện Dự thảo, trình Chính phủ duyệt.

6153 Cơ chế quản lý tài chính đối với các Quỹ khoa học và công nghệ cấp quốc gia / Nguyễn Quang Thành, Lương Thị Huyền // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.20 - 23 .- 332

Quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo cơ chế Quỹ đã được nghiên cứu, quy định và áp dụng vào thực tiễn cho nhiều kết quả tích cực từ 20 năm nay. Tuy nhiên, hiện nay cơ chế quản lý tài chính đối với các Quỹ khoa học và công nghệ cấp quốc gia ở Việt Nam đang có sự chưa đồng bộ với các qui định về quản lý ngân sách theo Luật Ngân sách nhà nước có hiệu lực từ năm 2017. Bài viết đánh giá thực trạng cơ chế tài chính và nguồn kinh phí.

6154 Cơ chế tài chí hướng tới nền kinh tế xanh: kinh tế của một số nước Châu Á / Trần Thị Quỳnh Hoa, Hà Thị Hương Lan // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.24 - 27 .- 330

Thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế, môi trường và tài nguyên ngày càng bị xuống cấp. Bên cạnh đó, các hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, thiên tai đã, đang và sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân loại, đe dọa tới sự phát triển kinh tế. Chính vì thế, các nước trên thế giới đã tìm cho mình con đường phát triển hướng tới nền kinh tế xanh. Cùng chung xu hướng đó, một số nước ở Châu Á, trong đó có Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều chính sách quan trọng, đặc biệt là chính sách tài chính, nhằm phát triển nền kinh tế xanh.

6155 Công cụ tài chính điều tiết giá trị gia tăng từ đất và một số kiến nghị sửa đổi luật đất đai 2013 / Hoàng Văn Cường, Nguyễn Thị Hải Yến // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.31 - 34 .- 332

Các qui định của Nhà nước trong thay đổi qui hoạch, thay đổi mục đích sử dụng đất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và thức đẩy các hoạt động đầu tư phát triển các dự án đầu tư xã hội luôn mang lại lợi ích và tạo giá trị gia tăng cho đất đai. Đây là nguồn lực quan trọng cho quá trình tích lũy, phát triển ban đầu và là nguồn thu quan trọng trong cân đối ngân sách của nhiều nước trên thế giới. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, nguồn lực từ giá trị gia tăng từ đất chưa có công cụ điều tiết, phân phối nên không chỉ làm thất thu ngân sách mà còn gây ra bất bình đẳng về lợi ích giữa các người dân cùng chịu tác động của các dự án đầu tư, giữa người dân có đất bị thu hồi với nhà đầu tư. Bài viết hướng vào đề xuất các công cụ tài chính để điều tiết giá trị gia tăng từ đất.

6156 Thực tiễn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam / Nguyễn Thị Hương, Lê Thị Phương // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.38 - 40 .- 330

Sau 30 năm đổi mới, nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa càng sáng tỏ hơn. Kinh tế thị trường phát triển đã góp phần khẳng định: Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Thành tựu và những kinh nghiệm, bài học đúc kết từ thực tiễn tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

6157 Phát triển kinh tế sáng tạo: xu thế toàn cầu và hàm ý cho Việt Nam / Đặng Văn Sáng // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.41 - 43 .- 330

Hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức rõ hơn về phát triển công nghiệp sáng tạo. Nền kinh tế sáng tạo giúp ích được rất nhiều cho sự phát triển kinh tế và làm giàu cho một quốc gia. Theo một nghiên cứu của Công ty tư vấn PwC, mức tăng trưởng của kinh tế sáng tạo ước tính sẽ vượt xa mức tăng trưởng kinh tế trung bình thế giới(4,6 % vào năm 2021, cao hơn 4,2 % mức trung bình của tất cả nền kinh tế). Bài viết trao đổi về xu thế phát triển kinh tế sáng tạo và đưa ra một khuyến nghị nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế sáng tạo ở Việt Nam.

6158 Thực trạng và giải pháp phát triển ngân hàng số ở Việt Nam / Phạm Thế Hùng, Trần Thị Lan Hương, Vũ Thị Tuyết Nhung // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.44 - 46 .- 332.04

Dưới áp lực cạnh tranh và làn sóng số hóa ngân hàng trên toàn thế giới, các ngân hàng buộc phải đổi mới, số hóa các mảng hoạt động để bắt kịp xu thế ngân hàng số trong bối cảnh mới. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động chuyển đổi số của các ngân hàng thương mại ở Việt Nam phải đối diện với nhiều thách thức, trong đó đặc biệt là vấn đề bảo mật, kiểm soát rủi ro, bảo vệ thông tin khách hàng . Bài viết trao đổi về thực trạng phát triển ngân hàng số tại Việt Nam hiện nay, từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy xu thế này phát triển trong thời gian tới.

6159 Trích lập dự phòng trong bối cảnh nợ xấu của ngân hàng thương giai đoạn hiện nay / Ngô Thị Kiều Trang, Mai Thị Quỳnh Như // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.47 - 49 .- 332.04

Nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Trước tình hình này, các ngân hàng đã tiến hành trích lập dự phòng để có nguồn tài chính ổn định nhằm bù đắp tổn thất có thể xảy ra trong hoạt động kinh doanh, đồng thời bảo toàn nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.

6160 Tháo gỡ vướng mắc về xử lý nợ xấu, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế / Hà Thị Sáu // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.50 - 52 .- 332.04

Trong nhiều năm qua, hệ thống Ngân hàng đã đạt được những kết quả rất quan trọng về xử lý nợ xấu, khai thông hàng trăm ngàn tỷ đồng nợ đọng đưa vào đầu tư cho tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt, từ giữa năm 2017, việc thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong nâng cao năng lực tài chính cho ngân hàng thương mại. Mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020 đạt được nhiều bước tiến lớn. Tuy nhiên, trong thực tiễn đang tiếp tục phát sinh những khó khăn, vướng mắc cần được tháo gỡ để hoạt động xử lý nợ xấu đạt được hiệu quả cao hơn, khai thông dòng vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho tăng trưởng bền vững nền kinh tế.