CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
6141 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh / Phạm Thị Thanh Hòa, Đàm Thanh Tú, Bùi Thị Hà Linh // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2020 .- Số 209 .- Tr. 19-24 .- 658
Khảo sát 284 công ty đang niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010-2019. Nghiên cứu sử dụng mô hình FEM để xem xét sự ảnh hưởng của các nhân tố đến tỷ lệ tăng trưởng của các công ty trong mô hình nghiên cứu.Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố được lựa chọn trong mô hình nghiên cứu có ảnh hưởng đến tăng trưởng của các doanh nghiệp: tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh nthu, hệ số nợ, hệ số đầu tư vào tài sản cố định và quy mô doanh nghiệp.
6142 Hoạt động ngân hàng đầu tư nhìn từ nghiệp vụ bảo lãnh, đầu tư trái phiếu của ngân hàng thương mại Việt Nam / Lã Thị Lâm // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2020 .- Số 209 .- Tr. 30-34 .- 332.12
Cơ sở pháp lý hoạt động bảo lãnh, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) của ngân hàng thương mại Việt Nam; thực tế và rủi ro tiềm ẩn từ nghiệp vụ ngân hàng thương mại Việt Nam tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay; giải pháp kiểm soát hoạt động bảo lãnh phát hành và đầu tư chứng khoán của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
6143 Xây dựng mô hình những yếu tố tác động đến ý định sử dụng ví điện tử / Nguyễn Bình Minh // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2020 .- Số 209 .- Tr. 35-38 .- 658
Bài viết xây dựng mô hình các nhân tố có tác động đến ý định sử dụng ví điện tử. Các biến trọng mô hình nghiên cứu đề xuất được kế thừa từ hai nghiên cứu của Davis & cộng sự (1989), Featherman và Pavlou (2002), đồng thời bổ sung thêm biến sự tin cậy khi online và sự hỗ trợ của chính phủ. Phương pháp nghiên cứu dự kiến được dùng là phương pháp định lượng; thang đo các biến độc lập, phụ thuộc được sử dụng từ các nghiên cứu trong và ngoài nước.
6144 Phân tích cơ cấu chi ngân sách địa phương cho giáo dục / Vũ Sĩ Cường // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.5 - 8 .- 332
Ở Việt Nam, dù có những tiêu chí và định mức chung về chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đào tạo, song do đây là khoản chi được phân cấp mạnh mẽ cho chính quyền địa phương nên vẫn có sự khác biệt giữa các tỉnh, thành phố về chi tiêu ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đào tạo. Bài viết này đánh giá khái quát quy mô và cơ cấu chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đào tạo ở các địa phương ( tập trung vào cơ cấu chi theo nội dung chi), nêu bật những vấn đề đặt ra nhìn từ cơ cấu chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đào tạo ở địa phương và gợi mở một vài giải pháp chính sách.
6145 Thực trạng quản lý nợ công giai đoạn 2016-2020 và định hưởng giải pháp cho giai đoạn mới / Võ Hữu Hiển // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.9 - 12 .- 332
Sau 5 năm thực hiện kế hoạch vay, trả nợ công giai đoạn 2016-2020, việc thực hiện kế hoạch vay, trả nợ công đã đạt được những kết quả tương đối toàn diện. Nhìn lại 5 năm qua có thể thấy, chính sách quản lý nợ công đã phát huy vai trò tích cực, qua đó góp phần huy động nguồn lực quan trọng cho đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng cường kỷ luật kỷ cương tài chính - ngân sách . Tuy nhiên việc quản lý nợ công ở nước ta trong những năm qua cũng gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Để khắc phục những khó khăn, hạn chế này, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về quản lý nợ công; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tái cơ cấu nợ theo hướng bền vững ...
6146 Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài sán công / Nguyễn Tân Thịnh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.13 - 16. .- 332
Tài sản công là cơ sở vật chất để các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao, đồng thời là nguồn lực tài chính có thể khai thác được để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy, việc quản lý tài sản công có vai trò hết sức quan trọng, tuy nhiên để đánh giá thực chất công tác quản lý tài sản công, trức hết cần phải xây dựng các tiêu chí đánh giá. Bài viết đánh giá thực trạng công tác này trong thời gian qua, đồng thời, đề xuất hướng xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá công tác quản lý tài sán công ở Việt Nam.
6147 Cơ chế điều hành giá tại dự thảo sửa đổi bổ sung nghị định số 83/2014/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu / Ngô Trí Trung // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Số 743 .- 330
Sau hơn 5 năm triển khai nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu (có hiệu lực từ tháng 11/2014), bên cạnh những kết quả đạt được đã được đã phát sinh một số bất cập do sự thay đổi khách quan của các yếu tố kinh tế, xã hội. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ , Bộ Công Thương đã phối hợp với Bộ Tài Chính và các đơn vị liên quan triển khai xây dựng Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung và đã hoàn thiện Dự thảo, trình Chính phủ duyệt.
6148 Cơ chế quản lý tài chính đối với các Quỹ khoa học và công nghệ cấp quốc gia / Nguyễn Quang Thành, Lương Thị Huyền // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.20 - 23 .- 332
Quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo cơ chế Quỹ đã được nghiên cứu, quy định và áp dụng vào thực tiễn cho nhiều kết quả tích cực từ 20 năm nay. Tuy nhiên, hiện nay cơ chế quản lý tài chính đối với các Quỹ khoa học và công nghệ cấp quốc gia ở Việt Nam đang có sự chưa đồng bộ với các qui định về quản lý ngân sách theo Luật Ngân sách nhà nước có hiệu lực từ năm 2017. Bài viết đánh giá thực trạng cơ chế tài chính và nguồn kinh phí.
6149 Cơ chế tài chí hướng tới nền kinh tế xanh: kinh tế của một số nước Châu Á / Trần Thị Quỳnh Hoa, Hà Thị Hương Lan // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.24 - 27 .- 330
Thời gian qua, cùng với sự phát triển kinh tế, môi trường và tài nguyên ngày càng bị xuống cấp. Bên cạnh đó, các hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí, thiên tai đã, đang và sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của nhân loại, đe dọa tới sự phát triển kinh tế. Chính vì thế, các nước trên thế giới đã tìm cho mình con đường phát triển hướng tới nền kinh tế xanh. Cùng chung xu hướng đó, một số nước ở Châu Á, trong đó có Việt Nam cũng đã đưa ra nhiều chính sách quan trọng, đặc biệt là chính sách tài chính, nhằm phát triển nền kinh tế xanh.
6150 Công cụ tài chính điều tiết giá trị gia tăng từ đất và một số kiến nghị sửa đổi luật đất đai 2013 / Hoàng Văn Cường, Nguyễn Thị Hải Yến // Tài chính - Kỳ 2 .- 2020 .- Số 743 .- Tr.31 - 34 .- 332
Các qui định của Nhà nước trong thay đổi qui hoạch, thay đổi mục đích sử dụng đất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và thức đẩy các hoạt động đầu tư phát triển các dự án đầu tư xã hội luôn mang lại lợi ích và tạo giá trị gia tăng cho đất đai. Đây là nguồn lực quan trọng cho quá trình tích lũy, phát triển ban đầu và là nguồn thu quan trọng trong cân đối ngân sách của nhiều nước trên thế giới. Thực tế tại Việt Nam cho thấy, nguồn lực từ giá trị gia tăng từ đất chưa có công cụ điều tiết, phân phối nên không chỉ làm thất thu ngân sách mà còn gây ra bất bình đẳng về lợi ích giữa các người dân cùng chịu tác động của các dự án đầu tư, giữa người dân có đất bị thu hồi với nhà đầu tư. Bài viết hướng vào đề xuất các công cụ tài chính để điều tiết giá trị gia tăng từ đất.





