CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
5211 Nhân tố tác động đến việc trích nộp các khoản theo lương cho người lao động tại doanh nghiệp / Nguyễn Thị Kim Phụng // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 79-81 .- 658
Trích nộp các khoản theo lương cho người lao động được xem là quy định bắt buộc đối với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều đơn vị vẫn cố tình né tránh, không chịu chấp hành các quy định của nhà nước liên quan đến các khoản trích nộp theo lương do sợ hao tổn chi phí. Kết quả là, việc chi trả các chế độ bảo hiểm cho người lao động gặp nhiều khó khăn, thậm chí nhiều lao động còn bị mất đi các quyền lợi mà đáng lẽ ra họ phải được hưởng. Nhằm góp phần bảo vệ phúc lợi có liên quan đến chế độ bảo hiểm cho người lao động, bài viết trao đổi về những nhân tố tác động đến ý thức chấp hành quy định trích nộp các khoản theo lương của các nhà quản lý doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành đúng các quy định của Nhà nước về việc trích nộp các khoản theo lương tại doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam.
5212 Xây dựng nông thôn mới ở một số nước châu Á và gợi ý chính sách cho Việt Nam / Hoàng Mai Chi, Trần Thùy Dung // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 110-112 .- 658
Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới là chủ trương, hướng đi đúng đắn, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sản xuất cũng như đời sống của người dân nông thôn; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường, sinh thái của đất nước. Học hỏi kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của các nước sẽ giúp Việt Nam có thể đi tắt, đón đầu xây dựng nông thôn mới hiệu quả, phát triển kinh tế nông nghiệp bền vững. Bài viết nghiên cứu thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở một số nước châu Á, qua đó gợi ý chính sách cho Việt Nam.
5213 Đánh giá ảnh hưởng đại dịch Covid-19 đến hoạt động của các tổ chức tín dụng tại tỉnh Bình Dương / Đào Lê Kiều Oanh // .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 128-133 .- 658
Thị trường tài chính Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020 đã khép lại với rất nhiều sự kiện được ghi dấu ấn. Đặc biệt, đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế - xã hội nói chung, thị trường tài chính, ngân hàng nói riêng, trong đó các ngân hàng tại tỉnh Bình Dương cũng không nằm ngoài tác động. Nghiên cứu này khái quát hoạt động của các tổ chức tín dụng tại tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 2015-2020, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 xảy ra từ đầu năm 2020.
5214 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi mua sắm trực tuyến của người dân trong giai đoạn Covid-19 : nghiên cứu trên địa bàn TP.Đà Nẵng / Phạm Thị Thùy Miên // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 134-136 .- 658
Trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, TP. Đà Nẵng đã thực hiện nhiều biện pháp cách ly nhằm đảm bảo an toàn cho người dân. Điều này dẫn đến sự thay đổi trong hành vi mua sắm của khách hàng, mở ra cơ hội cho doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến. Nghiên cứu này làm rõ các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến hành vi mua sắm trực tuyến của người dân trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19 tại TP Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố tác động mạnh nhất đến quyết định mua sắm trực tuyến là Nhận thức tính hữu ích, tiếp đến là Chất lượng dịch vụ và cuối cùng là Nhận thức rủi ro tác động ngược chiều với mức độ thấp nhất.
5215 Giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động trong các ngân hàng tại TP. Đà Nẵng / Hồ Diệu Khánh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 137-139 .- 658
Bài viết nghiên cứu các nhân tố tác động đến động lực làm việc của người lao động tại các ngân hàng trên địa bàn TP. Đà Nẵng, từ đó, khuyến nghị giải pháp giúp các ngân hàng trên địa bàn TP. Đà Nẵng gia tăng động lực làm việc của người lao động, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
5216 Thúc đẩy hợp tác giữa trường đại học với doanh nghiệp trong khối ASEAN / Nguyễn Nhật Tân // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 140-142 .- 658
Bài viết tổng quát về quan điểm thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới giữa trường đại học và DN hiện nay; thảo luận về khuyến nghị của các bộ, ngành, cơ quan quản lý đối với vấn đề thúc đẩy hợp tác R&D giữa trường đại học và DN trong khối ASEAN, với 4 trọng tâm sau: (i) Chính sách, quy hoạch tổng thể; (ii) Trợ cấp và tài trợ; (iii) Chính sách ưu đãi thuế và (iv) Vai trò của các cơ quan quản lý. Trên cơ sở đó, gợi ý những giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động R&D; chuyển giao kỹ thuật, chuyển giao kiến thức và đổi mới công nghệ giữa trường đại học với DN trong khối ASEAN.
5217 Phát triển ngành dịch vụ logistics dưới tác động của đại dịch Covid-19 / Vũ Đại Đồng // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 43-45 .- 658
Đề cập đế tác động của đại dịch Covid-19 đến dịch vụ ngành logistics VN; động lực tăng trưởng ngành logistics trong thời gian tới; đề xuất, kiến nghị.
5218 Rào cản đối với việc áp dụng quản trị chi phí liên tổ chức trong các doanh nghiệp / Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Trọng Nghĩa // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 751 .- Tr. 85-87 .- 658
Xác định ccs rào cản trong áp dụng quản trị chi phí liên tổ chức là rất cần thiết, từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp thúc đẩy việc áp dụng quản trị chi phí liên tổ chức, giúp các doanh nghiệp cung cấp được nhiều thông tin đầy đủ.
5219 Nghiên cứu thực trạng chuẩn bị tài chính cho tuổi già của người dân tại Hà Nội / Trịnh Thị Phan Lan, Vũ Thị Ngọc Hà // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2021 .- Số 10 (571) .- Tr. 29-36 .- 658
Tập hợp kết quả nghiên cứu khảo sát và phỏng vấn chuyen sâu chọn lọc nhằm tìm hiểu thực trạng việc chuẩn bị tài chính cho tuổi già của một bộ phận người dân tại Hà Nội, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị.
5220 Các nhân tố tác động tới hành vi ra quyết định cải thiện môi trường của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam / Lê Thanh Hà, Trần Thị Lan Phương // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 286 .- Tr. 24-36 .- 658
Mặc dù doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn trong các thành phần doanh nghiệp, nhưng họ vẫn hạn chế về kiến thức liên quan tới vấn đề môi trường (Hillary, 2000) và gặp nhiều khó khăn khi xử lý các vấn đề này (Leistner, 1999). Nghiên cứu này, vì vậy, sẽ hướng tới việc đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi thực hiện hoạt động đổi mới hướng tới cải thiện môi trường của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam. Chúng tôi sử dụng bộ khảo sát của Viện nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung Ương (CIEM) để xem xét đánh giá các nhân tố tác động đến hành vi ra quyết định cải thiện môi trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam giai đoạn 2011-2015. Kết quả cho thấy hoạt động đầu tư vào R&D, mạng lưới kết nối với các đối tác khác nhau có ảnh hưởng tới quyết định này của doanh nghiệp. Ngoài ra, các đặc điểm của nhà lãnh đạo như trách nhiệm môi trường, kiến thức, giới tính có tác động tích cực đến cải thiện môi trường. Phát hiện cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể trong cải thiện môi trường tùy thuộc vào quy mô và ngành khác nhau.





