CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
5051 Trao đổi về việc quản lý nợ quá hạn thẻ tín dụng tại các ngân hàng thương mại / Ngô Thị Tú Oanh, Lê Thị Dung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 589 .- Tr. 113-114 .- 332.12

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam qua nhiều năm hình thành phát triển, đã không ngừng đổi mới, hoàn thiện. Tuy nhiên, hoạt động nợ tín dụng ngân hàng vẫn còn tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Mục tiêu hàng đầu trong công tác quản trị tín dụng là hạn chế nợ ở mức thấp nhất, đặc biệt là trong công tác quản lý và ngăn chặn nợ quá hạn thẻ tín dụng.

5052 Một số nhân tố ảnh hưởng đến ý định ứng dụng hệ thống quản trị chất lượng toàn diện (TQM) trong các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và khí hóa lỏng ở Việt Nam / Trương Đức Thao // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 589 .- Tr. 115-117 .- 658

Nghiên cứu này được tiến hành dựa trên kết quả khảo sát 486 doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và khí hóa lỏng ở Việt Nam về ý định ứng dụng hệ thống quản trị chất lượng toàn diện (TQM). Kết quả nghiên cứu chỉ ra, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và khí hóa lỏng ở Việt Nam chưa có ý định rõ ràng trong việc ứng dụng TQM đé quản trị chất lượng sản phẩm của mình (3.16 điểm), mặc dù đa số các doanh nghiệp này đều cảm nhận được TQM là khá dễ dàng nếu áp dụng (4.02 điểm) và nó có thể đem lại hiệu quả hơn cho doanh nghiệp (3.77 điểm), và hiệu quả hơn so với hệ thống quản trị chất lượng mà doanh nghiệp mình đang áp dụng (3.86 điểm).

5053 Chính sách cổ tức và giá trị doanh nghiệp: Bằng chúng từ Việt Nam / Lê Đức Hoàng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 589 .- Tr. 122-124 .- 332.1

Nghiên cứu này nghiên cứu tác động của chính sách cổ tức thông qua lượng cổ tức được chi trả bằng tiền mặt đến giá trị doanh nghiệp. Mẫu nghiên cứu của nghiên cứu này bao gồm các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2019. Áp dụng phương pháp hồi quy các nhân tố cố định, nghiên cứu này chỉ ra rằng một tỷ lệ tăng lên trong lượng cổ tức được chi trả bằng tiền mặt có thể làm giảm giá trị doanh nghiệp. Qua đó, nghiên cứu này gợi ý rằng các doanh nghiệp tại Việt Nam nén giảm tỷ lệ chi trả cổ tức bằng tiền mặt xuống.

5054 Elon Musk và những “phép thuật” biến hóa thị trường tiền ảo Bitcoin, Dogecoin... / Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Thanh Tú // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 589 .- Tr. 120-121 .- 332.4

Nếu như trong vòng một năm trở lại đây, chỉ với một dòng thông báo của tỷ phú Elon Musk trên trang cá nhân Twitter, đã khiến thị trường tiền ảo số 1 thế giới sôi động, thu hút rất nhiều nhà đầu tư. Thì bây giờ cũng chỉ với một thông báo của ông về việc Tesla dừng nhận thanh toán bằng Bitcoin đã tạo nên cơn địa chấn với thị trường tiền ảo. Khổng chi Bitcoin, mà hàng loạt đồng coin đã lao dốc không phanh.

5055 Nghiên cứu một số góc nhìn lý thuyết giải thích hành vi tiêu dùng xanh / Đoàn Kim Thêu // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 589 .- Tr. 128-130 .- 658

Ngày nay, tiêu dùng xanh đang nổi lên như một xu hướng mới tất yếu trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Trong thập kỷ qua, tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ của người tiêu dùng đã tăng lên rất nhiều trên toàn thế giới, dẫn đến cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và gây thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường. Một số hậu quả nghiêm trọng của việc hủy hoại môi trường là sự nóng lên toàn cầu, gia tăng ô nhiễm môi trường và suy giảm hệ động thực vật. Nhiều quốc gia trên toàn cầu đang bắt đầu nhận ra mối đe dọa này và bắt đầu nỗ lực giảm thiểu tác động có hại của các hoạt động kinh doanh của họ đối với môi trường.

5056 Xu hướng chuyển đổi số quốc gia và những vấn đề đặt ra đối với ngành tài chính / Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Hồng Đoàn, Nguyễn Cương // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 754 .- Tr.6 - 9. .- 332.024

Xác định cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 là thời cơ để Việt Nam bắt kịp cùng các nước phát triển trong chuyển đổi số, trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm kiến tạo môi trường, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong cả 3 lĩnh vực: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Bài viết nhận diện xu hướng chuyển đổi số quốc gia, từ đó gợi mở những vấn đề đặt ra đối với ngành Tài chính trong tiến trình chuyển đổi sang nền tài chính số hiện đại.

5057 Kinh nghiệm quốc tế về ứng phó với đại dịch Covid-19 trong ngành du lịch tàu biền và bài học cho Việt Nam / Nguyễn Thị Sâm // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 587 .- Tr. 4-6 .- 658

Các đợt bùng phát Covid-19 đã được báo cáo trên các tàu du lịch bắt đầu từ tháng 2 năm 2020 đưa ra những thách thức mới cho ngành du lịch tàu biển. Khi đại dịch phát triển, chính phủ các nước và ngành công nghiệp du lịch trên toàn thế giới bao gồm cả các công ty du lịch tàu biển đã phát triển các kế hoạch ứng phó. Bài báo nghiên cứu 2 tình huống tàu thủy du lịch của Mỹ và Nhật Bản nhằm cung cấp tổng quát cao về phản ứng của chính phủ Hoa Kỳ và Nhật đối với đại dịch Covid-19 cũng như đưa ra một số bình luận ngắn gọn về các bài học kinh nghiệm và khuyến nghị cho lĩnh vực tàu du lịch của Việt Nam trong tương lai.

5058 Phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam / Nguyễn Ngọc Khánh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 587 .- Tr. 7-9 .- 330

Tại Việt Nam, ngành công nghiệp môi trường không phải là ngành công nghiệp mới xuất hiện, tuy nhiên, ngành công nghiệp môi trường còn non yếu hàng năm mới chỉ đáp ứng được 5% tổng nhu cầu xử lý nước thải đô thị, chế biến và tái chế khoảng 15% nhu cầu chất thải rắn và 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại. Trong đó, tính đến thời 31/12/2018 số doanh nghiệp ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh là 2347 doanh nghiệp. Tính cả giai đoạn 2010 - 2020 đã có tới 4.321 doanh nghiệp được thành lập đăng ký hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, với tốc độ gia tăng mạnh hàng năm.

5059 Quy hoạch, phát triển nền tảng số phục vụ liên thông chia sẻ, tích hợp dữ liệu ngành tài chính / Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Cương, Phạm Đình Liệu, Nguyễn Hồng Đoàn // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 754 .- Tr.10 - 13 .- 332.024

Một trong các thành phần "cốt lõi" đóng vai trò "đòn bẩy" trong tiến trình thực hiện chuyển đổi số của mỗi quốc gia là hạ tầng số. Hạ tầng số bao gồm các thiết chế và cơ sở vật chất kỹ thuật làm nền tảng cho việc triển khai quá trình chuyển đổi số. Hạ tầng số có thể chia làm năm thành phần: hạ tầng kết nối, hạ tầng thiết bị, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng ứng dụng và hạ tầng phát triển công nghệ. Nền tảng liên thông chia sẻ, tích hợp dữ liệu là một trong các thành phần chủ chốt của hạ tầng kết nối. Để triển khai chuyển đổi từ nền tài chính điện tử sang nền tài chính số cần thiết phải phát triển nền tảng số phục vụ việc liên thông chia sẻ, tích hợp dữ liệu ngành Tài chính trong trung, dài hạn. Bài viết nghiên cứu, đề xuất quy hoạch, phát triển nền tảng số phục vụ việc liên thông chia sẻ, tích hợp dữ liệu ngành Tài chính số đến năm 2030.

5060 Ứng dụng OKR tạo động lực cho người lao động tại Công ty Cổ phần CNG Việt Nam / Nguyễn Thị Kim Ngân, Hoàng Trung Quân // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 587 .- Tr. 13-15 .- 658

Người lao động là yếu tố đầu vào quan trọng nhất của doanh nghiệp, chất lượng đội ngũ người lao động quyết định sự phát triển hay thụt lùi của doanh nghiệp. Vì vậy, công tác tạo động lực cho người lao động rất quan trọng, góp thúc đẩy người lao động nâng cao trình độ nghiệp vụ và cống hiến cho doanh nghiệp nhiều hơn. Mô hình OKR (Objectives and Key Results) là một mô hình quản trị doanh nghiệp theo Mục tiêu và Kết quả, do vậy nó khá phù hợp trong việc đánh giá sự đóng góp của người lao động vào kết quả của doanh nghiệp. Bài báo đề xuất ứng dụng OKR để đánh giá sự đóng góp của người lao động tại công ty Cổ phần CNG Việt Nam, nhằm góp phần thúc đẩy tạo động lực cho người lao động làm việc hăng say, sáng tạo hon giúp cho công ty Cổ phần CNG phát triển bền vững và trường tồn.