CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
4491 Định vị tổ chức trung gian của thị trường KH&CN trong quản lý nhà nước về đổi mới sáng tạo / Phạm Đức Nghiệm, Tạ Bá Hưng, Nguyễn Hữu Xuyên // .- 2021 .- Số 6(747) .- Tr. 10-13 .- 658
Làm rõ sự cần thiết phải khẳng định vị trí, tầm quan trọng của tổ chức trung gian của thị trường khoa học và công nghệ (KH&CN) trong bối cảnh Đảng, Nhà nước đang đẩy nhanh việc hoàn thiện chức năng, phương thức quản lý nhà nước về đổi mới sáng tạo, theo hướng chuyển hóa “tri thức” thành “giá trị kinh tế” thay vì tập trung nhiều vào quá trình tạo ra tri thức như hiện nay. Sự nổ lực của bên cung trong việc đưa hàng hóa KH&CN tới bên cầu và việc cố gắng tìm kiếm, lựa chọn của bên cầu về tiếp nhận, ứng dụng hàng hóa KH&CN thích hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh là những hoạt động thiết yếu nhưng chưa đủ để mang lại giá trị gia tăng cao. Lý do là bởi hàng hóa KH&CN có tính phức tạp, đặc thù và điều này dẫn tới sự hình thành, phát triển các tổ chức trung gian đủ mạnh của thị trường KH&CN để hỗ trợ thương mại hóa, kết nối cầu – cung.
4492 Hoàn thiện thể chế cho hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp / Hoàng Văn Cương, Đinh Hải Hà, Nguyễn Xuân Toản // .- 2021 .- Số 6(747) .- Tr. 14-15 .- 330
Kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế cho hoạt động đổi mới sáng tạo (ĐMST) của doanh nghiệp trên các phương diện: mô hình kinh doanh mới, môi trường kinh doanh, thực thi quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 Việt Nam đang hướng tới trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam không còn lựa chọn nào khác phải huy động được sự đóng góp nhiều hơn nữa của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (ĐMST), đặc biệt là hoạt động ĐMST trong doanh nghiệp. Thời gian quan, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy, chính sách nhằm thúc đẩy hoạt động ĐMST trong doanh nghiệp. Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng năng lực ĐMST nhìn chung còn yếu. Nguyễn nhân chủ quan là chủ trương, chính sách phát triển kinh tế sáng tạo chưa được thể hiện rõ nét, chưa có chiến lược tổng thể và liên tục trong gian đoạn đủ dài, chưa có cách tiếp cận phù hợp.
4493 Bảo hộ sáng chế về công nghệ chuỗi khối tại Việt Nam / Vũ Thị Hồng Yến, Vũ Ngọc Dương // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 6(747) .- Tr. 16-20 .- 346.597048
Giới thiệu tổng quan về sáng chế, xu hướng bảo hộ và các lĩnh vực sáng chế liên quan đến công nghệ chuỗi khối đối với cả chủ đơn trong và ngoài nước, đồng thời xem xét khả năng bảo hộ của loại sáng chế này trong tương lai. Nếu một đối tượng được yêu cầu bảo hộ liên quan đến các đối tượng theo Điều 59 Luật SHTT (các đối tượng không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế), ví dụ như chương trình máy tính, nhưng nếu đối tượng này còn được thực hiện bởi hay liên quan đến thiết bị hay quy trình kỹ thuật với các đặc điểm/đặc tính kỹ thuật, thì đối tượng đó hoàn toàn có thể xem xét đăng ký sáng chế. Các sáng chế liên quan đến công nghệ chuỗi khối có thể được bảo hộ nếu phạm vi/yêu cầu bảo hộ của chúng có các “đặc tính kỹ thuật” và phải là một vấn đề kỹ thuật bằng phương tiện kỹ thuật và tạo ra hiệu quả kỹ thuật.
4494 Định hướng tiếp cận xây dựng Nhãn hiệu chứng nhận Cà phê Việt Nam chất lượng cao / Đặng Đức Chiến, Nguyễn Mai Hương // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 6(747) .- Tr. 21-24 .- 650
Trình bày định hướng tiếp cận xây dựng Nhãn hiệu chứng nhận Cà phê Việt Nam chất lượng cao. Sản xuất và tiêu thụ cà phê trên thế giới đang là “làn sóng cà phê thứ ba” – tập trung vào sản phẩm cà phê chất lượng cao (CPCLC). Việt Nam mặc dù đã đạt được những thành tích ấn tượng về sản lượng xuất khẩu cà phê (đứng thứ hai thế giới) về xuất khẩu cà phê nói chung, đứng đầu về xuất khẩu cà phê Robusta) nhưng giá trị chỉ chiếm 2% và giá cà phê xuất khẩu chỉ đứng thứ 10 thế giới. Để phải nâng cao chất lượng, giá trị và phát triển bền vững ngành nghề cà phê đòi hỏi phải hình thành được các chuỗi liên kết sản xuất – chế biến – thương mại sản phẩm chất lượng cao; đồng thời, phải xây dựng và phát triển thương hiệu CPCLC không những ở thị trường trong nước. Đây là nhiệm vụ trọng tâm của tái cơ cấu ngành hàng cà phê trong bối cảnh hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới.
4495 Ứng dụng BIM cho công trình hạ tầng kỹ thuật tại Việt Nam / Ngô Thanh Thủy, Nguyễn Quốc Chương, Đỗ Minh Truyền, Bùi Hoàng Đạt, Huỳnh Xuân Tín // .- 2021 .- Tr. 25-27 .- 624
Phân tích ứng dụng mô hình thông tin công trình (Building Information Modeling – BIM) cho công trình hạ tầng kỹ thuật, một xu hướng công nghệ tất yếu của ngành xây dựng trong bối cảnh hội nhập và phát triển tại Việt Nam. BIM là một quy trình liên quan tới việc tạo lập và quản lý dưới dạng kỹ thuật số các khâu thiết kế, thi công và vận hành các công trình. Việc ứng dụng BIM giúp tăng năng suất lao động, chất lượng, hiệu quả công việc, góp phần giảm thiểu chất thải xây dựng và được đánh giá là công nghệ mũi nhọn của ngành xây dựng nhằm phát triển hạ tầng số, nền tảng số thuộc Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tháng 06/2020.
4496 Chính sách tài khóa ứng phó với đại dịch COVID-19 ở các nước và những tác động đến nợ công / Nguyễn Như Quỳnh, Lê Thị Mai Liên // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 761 .- Tr. 9-13 .- 332.1
Đại dịch COVID-19 đã và đang tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế-xã hội tại nhiều quốc gia. Đại dịch đã làm tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 sụt giảm, đứt gãy các chuỗi cung ứng do phải thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội, khiến tổng cầu suy giảm. Trong bối cảnh đó, nhiều quốc gia đã thực hiện chính sách tài khóa mở rộng thông qua công cụ thuế và chi tiêu ngân sách để ứng phó với dịch bệnh và kích thích kinh tế. Điều này cũng khiến các quốc gia phải đối mặt với nguy cơ nợ công tăng cao. Bài viết phân tích xu hướng chính sách tài khóa ứng phó với đại dịch COVID-19 và những tác động đến nợ công tại một số nước, từ đó rút ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam nhằm giảm thiểu rủi ro tài khóa, đảm bảo nợ công an toàn, bền vững.
4497 Tăng cường quản lý xăng dầu dự trữ quốc gia / Nguyễn Văn Bình // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 761 .- Tr. 14-17 .- 658
Xăng dầu thành phẩm và dầu thô (sau đây gọi chung là xăng dầu) là các mặt hàng thuộc nhóm “Nhiên liệu” trong Danh mục hàng dự trữ quốc gia theo quy định pháp luật về dự trữ quốc gia. Đây là một trong những nhóm hàng dự trữ vừa mang tính chiến lược (đáp ứng mục tiêu chiến lược phục vụ an ninh, quốc phòng), vừa mang tính thiết yếu (đáp ứng yêu cầu cấp thiết cho sản xuất và đời sống nhân dân). Trong bối cảnh nhu cầu về nhiên liệu ngày càng tăng, an ninh năng lượng còn nhiều thách thức khó lường; dịch bệnh, chiến tranh thương mại và xung đột vũ trang còn diễn biến phức tạp trên thế giới; nguồn cung nhiên liệu trong nước còn phụ thuộc vào thị trường thế giới... đòi hỏi Việt Nam cần có giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường dự trữ quốc gia về xăng dầu và nâng cao hiệu quả quản lý xăng dầu dự trữ quốc gia.
4498 Những đột phá mang tính chiến lược trong tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam / Nguyễn Đình Luận // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 761 .- Tr. 18-21 .- 330
Tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế là nhiệm vụ quan trọng đã được Đảng, Nhà nước đặt ra và thực hiện từ nhiều năm qua. Nhiệm vụ này tiếp tục được triển khai quyết liệt trong giai đoạn tới. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn 2021-2025 là việc tái cơ cấu kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng cần phải nhanh hơn và có sự bứt phá. Theo đó, cần xác định rõ những thành tựu, tồn tại và hạn chế, cũng nhận diện những tác động để có thể đưa ra những giải pháp hiệu quả. Bài viết phân tích những thành tựu cũng như hạn chế của chiến lược tái cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong những năm qua, đồng thời chỉ ra những đột phá mang tính chiến lược trong thời gian tới để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.
4499 Phát triển nông nghiệp xanh ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay / Võ Hữu Phước, Trương Thị Thu Hương // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 761 .- Tr. 22-24 .- 330
Trên cơ sở tìm hiểu các yếu tố cấu thành của nông nghiệp xanh, cơ chế, chính sách và thực trạng phát triển nông nghiệp xanh Việt Nam hiện nay, bài viết nhận diện những “điểm nghẽn” trong quá trình phát triển nền nông nghiệp Việt Nam tiến tới nông nghiệp xanh. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, tồn tại, hướng đến phát triển nông nghiệp xanh bền vững.
4500 Kinh nghiệm quốc tế về cải cách chính sách thuế trong lĩnh vực chứng khoán / Phạm Tiến Đạt // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 761 .- Tr. 25-27 .- 332.64
Với vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế, thị trường chứng khoán là thị trường có tốc độ thay đổi nhanh nhất và tác động lớn đến kinh tế-xã hội của các quốc gia. Thị trường chứng khoán phát triển cũng đặt ra không ít thách thức trong việc xây dựng, hoàn thiện chính sách quản lý thuế. Vì vậy, việc cải cách chính sách thuế là yêu cầu bắt buộc trước những áp lực từ sự thay đổi của thị trường này. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm cải cách chính sách thuế trong lĩnh vực chứng khoán trên thế giới, từ đó đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam.





