CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
2561 Sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài và những ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam / Vũ Minh Long // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 88-91 .- 332.12
Bài viết nhằm xác định sự hiện diện của ngân hàng thương mại đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu bằng phương pháp bình phương tổng quát cho thấy sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Kết quả nghiên cứu chỉ ra tăng trưởng tín dụng và quy mô ngân hàng cso tác động cùng chiều đến hiệu quả của ngân hàng nhưng nợ xấu cho kết quả ngược lại.
2562 Cơ sở lý thuyết về kế toán trách nhiệm và những tác động / Nguyễn Thị Hồng // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 92-95 .- 657
Kế toán trách nhiệm là một bộ phận của kế toán quản trị, bao gốm hệ thống thông tin kế toán được thiết lập dựa trên sự phân quyền cho các nhà quản trị, các bộ phận tỏng tổ chức và sử dụng hỗn hợp các phương pháp đánh giá thành quả của các trung tâm trách nhiệm. Qua đó để ghi nhận, đo lường đánh giá thành quả hoạt động đạt được trong tổ chức nhằm cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cho các nhà quản trị nahwmf kiểm soát các bộ phân, đơn vị doanh nghiệp.
2563 Áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế ở các nước đang phát triển / Nguyễn Phúc Sinh, Lê Việt // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 96-99 .- 657
Việc áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đã từng bước công bố các chuẩn mực kế toán công quốc tế trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đã từng bước công bố các chuẩn mực kế toán công như là tất yếu khách quan phù hợp với nhu cầu quản lý thống nhất về tài chính nhà nước, yêu cầu hội nhập quốc tế. Đây là việc làm cần thiết trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, quản trị ngày càng tốt hơn nên kinh tế tài chính quốc gia ở tầm vi mô và vĩ mô.
2564 Nghiên cứu về kế toán trên cơ sở tiền mặt có điều chỉnh trong kế toán công quốc tế / Mai Thị Hoàng Minh, Nguyễn Thị Thanh Tâm // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 100-103 .- 657
Nếu như trước đây kế toán trên cơ sở tiền mặt trong lĩnh vực công thường được các quốc gia sử dụng thì nay họ đang xu hướng chuyển sang kế toán trên cơ sở tiền mặt có điều chỉnh. Bài viết này đưa ra thêm cái nhìn về sự khác nhau giữa hai phương thức kế toán này nhằm hướng đến sự hải hòa giữa chuẩn mực kế toán của Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế.
2565 Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng chính sách tài chính cho phát triển kinh tế số / Huỳnh Thế Nguyễn, Phan Thị Hằng Nga // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 103-105 .- 658.15
Các quốc gia trên thế giới khai thác sức mạnh của đổi mới kỹ thuật số không chỉ để tăng trưởng kinh tế, mở rộng sự thịnh vượng, mà còn giải quyết những thách thức xã hội liên quan đến môi trường, sức khỏe cộng đồng giao thông vận tải và các mối quan tấm khác. Tuy nhiên để phù hợp với tốc độ đổi mới kỹ thuật số mà các thị trường khác đạt được, đặc biệt là khu vực quốc tế có mức độ kỹ thuật số phát triển cao, đòi hỏi các chính sách tài chính liên quan đến kỹ thuật số Việt Nam phải hài hòa, thân thiện và phù hợp với khu vực thế giới.
2566 Phát triển kinh tế tuần hoàn trên thế giới và một số kiến nghị đối với Việt Nam / Vũ Quốc Phong // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 106-109 .- 330
Trước xu hướng tài nguyên ngày càng khan hiếm và cạn kiệt, việc phát triển kinh tế tuần hoàn đã và đang là một giải pháp và lựa chọn tối ưu của nhiều quốc gia trên thế giới. Bằng phương pháp tổng kết kinh nghiệm từ một số mô hình kinh tế tuần hoàn trong và ngoài nước, tác giả đề xuất một số kiến nghị thúc đẩy sự phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam trong thời gian tới.
2567 Thuế bất động sản trong phát triển nền kinh tế: Kinh nghiệm của các nước cho Việt Nam / Ngô Thị Phương Thảo, Trịnh Hồng Loan, Nguyễn Thanh Lân // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 110-113 .- 336.2
Bài viết đề cập đến vai trò của thuế bất động sản dưới các góc độ khác nhau: Trong phân cấp tài chính công, tài chính địa phương, đồng thời phân tích mối quan hệ giữa thuế bất động sản và quản lý sử dụng đất, thuế bất động sản với quy hoạch lãnh thổ. Trên cơ sở khảo cứu kinh nghiệm của các nước về thuế bất động sản, nhóm tác giả đề xuất một số bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam.
2568 Tính bất định ảnh hưởng đến hành vi đầu tư của doanh nghiệp tại các nền kinh tế mới nổi / Nguyễn Ngọc Thụy Vy // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 114-119 .- 330
Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của tính bất định đến hành vi đầu tư của doanh nghiệp tại các quốc gia mới nổi. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy tính bất định làm giảm đầu tư của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa tính bất định và đầu tư mạnh mẽ hơn tại các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính. Kết quả này hàm ý tại quốc gia mới nổi, chọn và giới hạn tài chính là cơ chế giúp giải thích tác động của tính bất định đến đầu tư của doanh nghiệp.
2569 Nâng cao hiệu quả của hệ thống Thương vụ tại nước ngoài trong hội nhập kinh tế quốc tế / Dương Thị Hào // .- 2022 .- Số 786 .- Tr. 120-122 .- 330
Trong thời gian qua hệ thống thương vụ của nước ta tại nước ngoài đã tranh thủ, tận dụng các cơ hội khai thác thị trường đối tác, các thị trường mới, góp phần thúc đẩy giao thương giữa Việt Nam và các thị trường trên thế giới, đóng góp vào sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước. Trong thời gian tới, trước bối cảnh khu vực và thế giới có nhiều biến động phức tạp, cần tiếp tục phát huy hiệu quả vai trò của hệ thống Thương vụ và vai trò là sứ giả kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế.
2570 Vốn đầu tư cho tăng trưởng xanh: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý đối với Việt Nam / Lý Đại Hùng // Nghiên cứu kinh tế .- 2022 .- Số 8(531) .- Tr. 3-16 .- 332.6
Bài viết đánh giá vai trò cúa vốn đầu tư, gồm cả nội địa và quốc tế, đối với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xanh. Mô hình quy hồi dữ liệu mảng của 51 nền kinh tế trong giai đoạn 1991-2013 được kết hợp với phân tích nền kinh tế điển hình để đúc rút ra một số hàm ý đối với Việt Nam. Bằng chứng thực nghiệm ghi nhận rằng, vốn đầu tư nội địa đang đóng vai trò quan trọng hơn một cách tương đối so với vốn đầu tư quốc tế, trong việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng xanh. Từ đó các kết quả này hàm ý rằng, ưu tiên chính sách sắp tới đối với Việt Nam có thể tập trung khai thác các nguồn lực vốn tài chính nội bộ nền kinh tế hơn là chú trọng vốn đầu tư quốc tế.