CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
10161 Hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam trong chiến lược tái cấu trúc nền kinh tế / Nguyễn Hải Dương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2017 .- Số 498 tháng 7 .- Tr. 70-72 .- 332.1
Trình bày sự chuyển dịch cơ cấu của các doanh nghiệp Việt Nam trong những năm gần đây và giải pháp đột phá - nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và tái cấu trúc kinh tế.
10162 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên ngành kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Lâm Nghiệp / Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Bá Huân, Nguyễn Thành Trung Hiếu // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2017 .- Số 498 tháng 7 .- Tr. 76-79 .- 658
Trình bày 7 nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp của sinh viên ngành kinh tế và quản trị kinh doanh trường Đại học Lâm Nghiệp: sự đam mê kinh doanh; thái độ về khởi nghiệp; nhận thức và khả năng bản thân về kinh doanh; giáo dục và định hướng của nhà trường; nền tảng và ý kiến gia đình; khả năng huy động nguồn nhân lực cho khởi sự; ý kiến người xung quanh. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển khởi sự doanh nghiệp của sinh viên trong thời gian tới.
10163 Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước Asean trong bối cảnh hội nhập AEC / Lê Quốc Hội, Trần Lan Hương, Lê Thị An Thái // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 2-9 .- 382.7 597
Nghiên cứu này ước lượng và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN trong giai đoạn 1997-2015. Kết quả cho thấy xuất khẩu của Việt Nam tăng khi tổng sản phẩm quốc nội (Gross domestic product-GDP) bình quân đầu người của Việt Nam và GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu tăng lên. Ngược lại, chi phí vận chuyển, được đại diện bởi khoảng cách địa lý, có tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định mối quan hệ tích cực giữa xuất khẩu và tỷ giá song phương thực. Biến giả ATIGA đại hiện do hội nhập AEC không có ảnh hưởng đáng kể đối với xuất khẩu của Việt Nam. Kết quả này có thể mang lại những khuyến nghị cho chính phủ Việt Nam và các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc đưa ra mục tiêu và chính sách xuất khẩu.
10164 Khung đánh giá bền vững nợ và một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam / Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thành Chung // .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 10-17 .- 330.124
Trong những năm gần đây, nợ công của Việt Nam tăng nhanh, áp lực trả nợ trong ngắn hạn lớn đặt ra yêu cầu cấp thiết về tính bền vững cũng như giải pháp nào để kiểm soát nợ công an toàn, bền vững nợ công. Tuy nhiên, thế nào là bền vững nợ công vẫn là một một khái niệm được tranh luận cả về lý luận và thực tiễn. Bài viết này thảo luận về khung đánh giá bền vững nợ (Debt Sustainability Framework – DSF) của WB và IMF – một trong những khung lý luận nhận được quan tâm nhiều nhất của chính phủ các quốc gia, khu vực, các định chế tài chính quốc tế và các nhà nghiên cứu. Trên cơ sở đó, thảo luận một số hàm ý và đề xuất chính sách đối với công tác quản lý bền vững nợ công của Việt Nam.
10165 Huy động vốn cho thị trường bất động sản thông qua chứng khoán hóa các khoản vay nợ ở Việt Nam / Ngô Thị Phương Thảo // .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 18-25 .- 333.33068
Bài viết tập trung nghiên cứu cơ chế huy động vốn thông qua nghiệp vụ chứng khoán hóa các khoản vay bất động sản. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Việt Nam có đủ điều kiện thuận lợi để phát triển và huy động vốn thông qua nghiệp vụ này. Tuy nhiên, trên thực tế triển khai vẫn còn nhiều bất cập cả về cơ sở pháp lý, cơ chế hoạt động của thị trường và khả năng nội tại của các doanh nghiệp… Vì vậy cần phải có các giải pháp từ các cơ quan quản lý nhà nước, từ các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản nhằm tạo hành lang pháp lý và điều kiện thực tiễn để chứng khoán hóa ở Việt Nam thực sự trở thành công cụ hữu hiệu huy động vốn cho thị trường bất động sản trong giai đoạn hiện nay.
10166 Ảnh hưởng của sở hữu cổ đông lên lợi nhuận cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam / Nguyễn Văn Tuấn, Phạm Thảo Quyên // .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 26-35 .- 332.1
Sử dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng để kiểm soát các nguồn nội sinh tiềm năng, nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu cổ đông và lợi nhuận cổ phiếu của 162 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2011-2015. Khác với nhiều nghiên cứu trước đây, chúng tôi không tìm thấy ảnh hưởng của sở hữu tổ chức, sở hữu nước ngoài và sở hữu nhà nước lên lợi nhuận cổ phiếu của các doanh nghiệp niêm yết. Kết quả kiểm định tăng cường cũng xác nhận rằng không tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa cấu trúc sở hữu cổ đông và hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Phát hiện này góp phần làm sáng rõ những thay đổi về mối quan hệ giữa cơ cấu sở hữu cổ đông và lợi nhuận cổ phiếu tại Việt Nam trong thời gian vừa qua, cũng như đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm cho mối quan hệ này ở các thị trường mới nổi.
10167 Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và hiệu quả tài chính: Bằng chứng từ các công ty niêm yết Việt Nam / Hồ Viết Tiến, Hồ Thị Vân Anh // .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 36-46 .- 332.1
Nghiên cứu giữa trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) và hiệu quả tài chính công ty (CFP) đang được quan tâm nhiều hơn trên thế giới và tại Việt Nam, nhất là sau những vụ việc liên quan đến trách nhiệm của công ty đối với môi trường và đối với người lao động. Bài báo này nhằm mục đích điều tra ảnh hưởng của CSR lên CFP tại Việt Nam. Phân tích nội dung và hồi quy đa biến được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ CSR và CFP. Dữ liệu được thu thập từ báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 5 năm (2012 – 2016). Kết quả cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa chỉ số CSR tổng, CSR thành phần và CFP, nhưng mối quan hệ giữa trách nhiệm với người lao động (CSR_empl) và CFP không thể hiện rõ ràng. Trong mọi trường hợp thì trách nhiệm với môi trường và với sản phẩm đều có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính.
10168 Ứng dụng cách tiếp cận trung bình hóa mô hình kiểu Bayes (BMA) trong việc xây dựng mô hình chấm điểm rủi ro tín dụng cho khách hàng SME tại Việt Nam / Vương Minh Giang, Nguyễn Thanh Thiên // .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 47-58 .- 332.1
Bài viết giới thiệu tổng quan về phương pháp trung bình hóa mô hình kiểu Bayes (Bayesian Model Averaging - BMA), và ứng dụng cách tiếp cận này vào việc đưa ra một chiến lược mô hình hóa gồm các bước ứng dụng đảm bảo khả năng xây dựng và lựa chọn mô hình chấm điểm rủi ro tín dụng một cách toàn diện và thấu đáo. Kết quả áp dụng cho phân khúc doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) trong ngành Công nghiệp và Xây dựng, dựa trên nguồn dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), cho thấy các chỉ tiêu thanh khoản Vốn lưu động/Tổng tài sản, Tài sản ngắn hạn/Nợ ròng, Tài sản ngắn hạn/(Tổng tài sản-Tài sản vô hình), và (Nợ phải trả - Tiền - Các khoản tương đương tiền)/Doanh thu thuần là nhóm nhân tố tài chính quyết định tới rủi ro không trả được nợ của các khách hàng này.
10169 Thái độ đối với dịch vụ thanh toán di động: Các tiền tố từ góc độ khách hàng cá nhân / Nguyễn Mạnh Tuân, Đặng Thái Đoàn // .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 59-68 .- 658.8 12
Dịch vụ thanh toán di động là một loại hình dịch vụ mới và có ý nghĩa trong thương mại điện tử. Trên nền của thuyết hành vi hoạch định kinh điển, bài viết này đưa ra một giải thích mới về thái độ đối với dịch vụ thanh toán di động của khách hàng cá nhân thông qua việc tích hợp cả ba góc nhìn là đổi mới tiêu dùng, lợi ích cảm nhận và rủi ro cảm nhận. Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) trong đó yếu tố rủi ro cảm nhận và đổi mới tiêu dùng là các khái niệm bậc hai được thực hiện trên mẫu gồm 250 khách hàng đã giải thích được 49% của ý định tái sử dụng dịch vụ thanh toán di động của người tiêu dùng cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh. Với 5 trong tổng số 6 giả thuyết nghiên cứu được ủng hộ, kết quà nghiên cứu cho thấy đổi mới tiêu dùng và lợi ích cảm nhận có tác động cùng chiều còn rủi ro càm nhận có tác động ngược chiều lên thái độ đối với dịch vụ thanh toán di động.
10170 Nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam / Đàm Văn Huệ, Bùi Thị Thùy Dương // .- 2017 .- Số 242 tháng 8 .- Tr. 69-79 .- 332.12
Nhiều tác giả tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác đã nghiên cứu ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử (E-banking) của khách hàng nhưng chủ yếu nghiên cứu tập trung vào một dịch vụ riêng lẻ hoặc tại một vùng miền cụ thể. Bài viết được tác giả sử dụng phương pháp định tính, định lượng và phần mềm SPSS, AMOS để khảo sát và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ E-banking của khách hàng trong khu vực Hà Nội và Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố có mức độ ảnh hưởng giảm dần đến ý định sử dụng dịch vụ E-banking của khách hàng: Hình ảnh nhà cung cấp, Tính đổi mới, Tính hữu ích- Dễ sử dụng, Cảm nhận rủi ro, Ảnh hưởng xã hội, Cảm nhận chi phí thấp và phát hiện ảnh hưởng qua lại giữa một số nhân tố trong mô hình đồng thời cũng chỉ ra khách hàng có mức thu nhập khác nhau, sinh sống tại vùng miền khác nhau chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố là khác nhau.





