CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Luật

  • Duyệt theo:
2551 Hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo luật hình sự Việt Nam và một số đề xuất, kiến nghị / Lê Đăng Doanh, Lê Đăng Khoa // Luật học .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 12 – 20 .- 340

Bài viết trình bày nội dung các quy định của Bộ luật hình sự về hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội và chỉ ra một số bất cập của các quy định này; đưa ra đề xuất, kiến nghị khi hướng dẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội như: Thời gian pháp nhân thương mại bị tạm đình chỉ hoạt động trong giai đoạn điều tra cần được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn; khi áp dụng hình phạt chính là hình phạt đình chỉ họat động vĩnh viễn đối với pháp nhân thương mại trong một lĩnh vực nào đó cần hướng dẫn áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung bắt buộc kèm theo.

2552 Thực hiện quy định của Hiến pháp về quyền con người trong tố tụng hình sự ở Việt Nam / Nguyễn Văn Đổng // Luật học .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 21 – 32 .- 340

Quyền con người trong tố tụng hình sự là vấn đề quan trọng trong lĩnh vực quyền con người. Đây là vấn đề mà quốc tế cũng như từng quốc gia, trong đó có Việt Nam, luôn quan tâm ghi nhận trong luật và bảo đảm thi hành trong thực tiễn đời sống xã hội. Bài viết phân tích quy định về quyền con người, việc bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khái quát thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền con người của các cơ quan tư pháp, trung tâm là hệ thống tòa án, chỉ ra những hạn chế của việc đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự; đưa ra một số yêu cầu, giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và tăng cường bảo vệ quyền con người trong thời gian tới.

2553 Cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay / Nguyễn Võ Linh Giang // Luật học .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 33 – 48 .- 340

Bài viết phân tích các vấn đề lí luận và thực tiễn quy định pháp luật về cơ chế bảo hiến ở Việt Nam theo hai tiêu chí là chủ thể và trình tự thủ tục; so sánh với pháp luật của một số quốc gai về vấn đề này; đề xuất hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay theo hướng: Ban hành văn bản luật điều chỉnh riêng về cơ chế bảo vệ Hiến pháp, trong đó xác định rõ vai trò giải thích Hiến pháp của Ủy ban thường vụ Quốc hội và quy định chủ thể duy nhất có thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp; thành lập Hội đồng bảo hiến theo mô hình của Cộng hòa Pháp.

2554 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo công ước viên năm 1980 – So sánh với pháp luật Việt Nam / Phùng Bích Ngọc // Luật học .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 49 – 60 .- 340

Bài viết phân tích, đánh giá một số quy định về việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trong Công ước Viên năm 1980, chỉ ra sự phù hợp và không phù hợp trong các quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là các quy định trong Luật thương mại năm 2005 về địa điểm giao hàng, hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, kiểm tra hàng hóa và bảo quản hàng hóa. Trên cơ sở đó, bài viết kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thương mại năm 2005 để tương thích với các quy định trong Công ước Viên năm 1980.

2555 Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Luật quốc tế / Nguyễn Thị Thuận // Luật học .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 61 – 71 .- 340

Bài viết phân tích, đánh giá quy định trong một số điều ước quốc tế phổ cập liên quan đến trách nhiệm của pháp nhân nói chung và trách nhiệm hình sự của pháp nhân nói riêng; từ đó đưa ra những kết luận khoa học và khẳng định: Trên cơ sở chủ quyền và bằng pháp luật của mình, quốc gia toàn quyền định đoạt trách nhiệm pháp lí của pháp nhân là trách nhiệm hình sự, dân sự hay hành chính.

2556 Hoạt động của Fintech ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng pháp luật điều chỉnh và giải pháp pháp lí nhằm hoàn thiện pháp luật / Nguyễn Hải Yến // Luật học .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 72 – 81 .- 340

Bài viết đề xuất một số kiến nghị như: Cần xem xét công ty Fintech là chủ thể kinh doanh đặc biệt để xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lí cho sự tồn tại và hoạt động của công ty Fintech; ban hành Luật thanh toán, các quy định chuẩn hóa đối với hoạt động thanh toán điện tử và ghi nhận chứng từ thanh toán điện tử, thiết lập cơ sở pháp lí cho hoạt động gọi vốn cộng đồng và hoạt động cho vay ngân hàng; ban hành các quy định về công nghệ thông tin, sở hữu trí tuệ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và phòng, chống rửa tiền để đảm bảo an toàn cho hoạt động của các công ti Fintech nhằm hướng tới mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế đất nước trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

2557 So sánh một số quy định về hòa giải trong lĩnh vực tư pháp hình sự của cộng hòa liên bang Đức và Việt Nam / Nguyễn Sơn Phước // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2019 .- Số 05 (126) .- Tr. 59 – 66 .- 340

Bài viết phân tích và đánh giá một số quy định trong lĩnh vực tư pháp hình sự Cộng hòa Liên bang Đức về biện pháp hòa giải, cụ thể bao gồm: Khái niệm, đối tượng áp dụng, điều kiện áp dụng, thẩm quyền và thủ tục áp dụng. Trên cơ sở đó, tác giả so sánh quy định về hòa giải trong pháp luật Đức với biện pháp hòa giải tại cộng đồng của Việt Nam, đồng thời đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện những quy định về biện pháp hòa giải tại cộng đồng.

2558 Quy định về điều ước quốc tế trong năm bản Hiến pháp của Việt Nam từ năm 1946 đến năm 2013 / Ngô Hữu Phước // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2019 .- Số 05 (126) .- Tr. 67 – 81 .- 340

Bài viết phân tích, làm sáng tỏ các quy định liên quan đến điều ước quốc tế trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959 của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 của Cộng hòa Xã họi chủ nghĩa Việt Nam.

2559 Hiệu lực của hợp đồng theo công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: “Khoảng xám” cho xu hướng quay về áp dụng pháp luật quốc gia / Trần Thị Thuận Giang, Lê Tấn Phát // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2019 .- Số 05 (126) .- Tr. 90 – 102 .- 340

Vấn đề hiệu lực của hợp đồng thương mại quốc tế được quy định trong Công ước Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) thông qua tuyên bố minh thị tại Điều 4 CISG. Theo đó, Công ước không điều chỉnh vấn đề hiệu lực của hợp đồng, trừ trường hợp có quy định khác rõ ràng được nêu trong Công ước. Tuy nhiên, trên thực tế áp dụng, có những vấn đề pháp lý không rõ có thuộc về vấn đề hiệu lực của hợp đồng. Vấn đề này sẽ được phân tích thông qua bài viết.

2560 Vấn đề quy trách nhiệm cho Quốc gia tiếp nhận đầu tư trong pháp luật đầu tư quốc tế / Trần Thăng Long // Khoa học pháp lý Việt Nam .- 2019 .- Số 05 (126) .- Tr. 103 – 116 .- 340

Bài viết phân tích cơ sở của việc quy trách nhiệm cho quốc gia tiếp nhận đầu tư trong pháp luật đầu tư quốc tế. Theo luật quốc tế, việc quy trách nhiệm cho quốc gia tiếp nhận đầu tư không chỉ căn cứ vào những hành vi vi phạm của cơ quan nhà nước ở trung ương mà còn là hành vi của các cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư ở địa phương; không chỉ là hành vi vi phạm của cơ quan nhà nước mà còn là hành vi vi phạm của các viên chức cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức trách của mình đối với nhà đầu tư nước ngoài.