Kiểm soát huyết áp và yếu tố liên quan trên người bệnh ngoại trú tại tuyến y tế cơ sở
Tác giả: Hồ Thị Kim Thanh, Vũ Việt Hằng, Trần Thị Hương Lý, Dương Thị Ngọc Tâm, Nguyễn Thị Thanh, Đỗ Nguyên Vũ, Bùi Trâm AnhTóm tắt:
Nghiên cứu mô tả, đa trung tâm trên 1.419 người bệnh tăng huyết áp ngoại trú tại Vĩnh Yên, Hoàng Mai và Tam Điệp năm 2025 xác định tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu theo VNHA 2024 - 2025. Kết quả: tuổi trung bình 68,8 ± 9,2; tỷ lệ kiểm soát huyết áp chung 48,3%, gồm 75,7% ở nhóm không bệnh đồng mắc, 19,7% ở nhóm có bệnh đồng mắc. Đơn trị liệu chiếm ưu thế (71,4%), tỷ lệ dùng viên phối hợp còn thấp. Hồi quy đa biến xác định nam giới (aOR = 0,71, KTC 95%: 0,54 - 0,91), tăng huyết áp độ 2-3 (aOR = 0,54 - 0,59, KTC 95%: 0,39 - 0,89) và bệnh đồng mắc (aOR = 0,04 - 0,08, KTC 95%: 0,01 - 0,10) có liên quan độc lập với khả năng đạt đích thấp hơn (p < 0,05), bệnh đồng mắc vừa là yếu tố liên quan, vừa là tiêu chí phân loại ngưỡng đích. Ngược lại, tuân thủ thuốc (MMAS-8 – thang đo tuân thủ dùng thuốc Morisky 8 mục) có liên quan với khả năng đạt đích cao hơn (aOR = 1,43, KTC 95%: 1,02 – 2,00, p = 0,04). Nghiên cứu nhấn mạnh cần phối hợp thuốc sớm, nâng cao tuân thủ điều trị tại tuyến y tế cơ sở, đặc biệt ở nhóm có bệnh đồng mắc.
- Nồng độ GDF-15 huyết thanh và giá trị tiên lượng biến cố suy tim ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp được can thiệp động mạch vành qua da
- Mối liên quan giữa tỷ số ApoB/ApoA-I và tổn thương động mạch vành ở bệnh nhân hội chứng động mạch vành cấp
- Đánh giá nguy cơ tim mạch 10 năm theo thang điểm PREVENT - ASCVD ở bệnh nhân gút có đồng mắc đái tháo đường
- Đánh giá nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp bằng thang điểm SCORE2
- Kết quả dài hạn phẫu thuật điều trị bất thường trở về tĩnh mạch phổi hoàn toàn thể trên tim ở trẻ sơ sinh





