Thực trạng rối loạn dạng cơ thể ở người bệnh trào ngược dạ dày-thực quản tại Bệnh viện Bạch Mai
Tác giả: Lưu Thị Thanh Phương, Nguyễn Văn TuấnTóm tắt:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 185 người bệnh đã được chẩn đoán trào ngược dạ dày-thực quản (GERD, mã K21), khám ngoại trú tại Trung tâm Tiêu hóa-Gan mật, Bệnh viện Bạch Mai từ 7/2025 đến 6/2026, nhằm mô tả thực trạng rối loạn dạng cơ thể (RLDCT). Sàng lọc bằng SSD-12, chẩn đoán theo ICD-10 F45, kết hợp PHQ-9, GAD-7, PSS-10, EHAS, FSSG, GERD-HRQL. Tuổi trung bình 47,3 ± 13,8; nữ 56,8%; thời gian mắc GERD trung vị 2,0 năm; đáp ứng PPI kém 58,4%. Tỷ lệ RLDCT theo ICD-10 F45 đạt 45,9% (85/185; KTC 95% 38,9–53,1%); SSD-12 ≥ 16 đạt 41,6%. Trong nhóm RLDCT, F45.1 và F45.0 chiếm 69,4%. Nhóm RLDCT có trung bình 3,4 ± 1,5 hệ cơ quan có triệu chứng cơ thể thường xuyên, 70,6% ≥ 3 hệ; gánh nặng tâm thần đồng mắc cao (GAD-7 10,8; PHQ-9 10,2; PSS-10 22,8; EHAS 38,0); GERD-HRQL 41,4 ± 13,6; đáp ứng PPI kém ở nhóm RLDCT 82,4%. Tỷ lệ RLDCT đạt gần một nửa quần thể GERD ngoại trú tuyến cuối, với ưu thế F45.1 và F45.0 cùng gánh nặng tâm thần đồng mắc cao gợi ý nhu cầu sàng lọc tâm lý trong quy trình khám tiêu hóa thường quy.
- Kết quả điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản bằng bài thuốc bán hạ tả tâm thang
- Kết quả của phương pháp nhĩ áp kết hợp PPIs trên bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản
- Đánh giá tác dụng của viên “Dạ dày HĐ” qua một số triệu chứng lâm sàng trên bệnh nhân trào ngược dạ dày – thực quản
- Tần suất và các đặc điểm của triệu chứng ngoài thực quản ở bệnh nhân trào ngược dạ dày thực quản
- Đánh giá tác dụng của bài thuốc "Cam thảo bạch thược gia giảm" trong điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản





