Kết quả điều trị cetuximab phối hợp hóa chất trong ung thư đại trực tràng di căn
Tác giả: Trịnh Lê Huy, Vũ Hồng Thăng, Chử Quốc Hoàn , Nguyễn Xuân Đại , Nguyễn Hoàng Anh, Phạm Tuấn AnhTóm tắt:
Nghiên cứu mô tả hồi cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị Cetuximab phối hợp hóa chất trên 102 bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn RAS wild-type tại Bệnh viện K (01/2018 – 04/2026). Tuổi trung vị là 60. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) và kiểm soát bệnh (DCR) lần lượt đạt 50,6% và 78,3%. Tỷ lệ chuyển đổi can thiệp triệt căn chung là 9,8%. Không có sự khác biệt về tỷ lệ chuyển đổi triệt căn (13,0% so với 12,5%, p = 1,0), trung vị thời gian sống thêm không tiến triển (PFS) và sống thêm toàn bộ (OS) giữa hai phác đồ nền mFOLFOX6/FOLFOX và FOLFIRI. Trung vị PFS chung là 8,48 tháng; trung vị OS chưa đạt, với tỷ lệ OS 12 tháng là 78,2%. Độc tính thường gặp là ban dạng mụn (44,1%), tăng men gan AST/ALT (40,2%), thiếu máu (37,3%) và độc tính từ độ 3 trở lên chiếm 28,4%, không ghi nhận tử vong do điều trị. Cetuximab phối hợp hóa chất đạt hiệu quả kiểm soát bệnh tích cực và an toàn. Việc lựa chọn phác đồ hóa chất nền nên được cá thể hóa do không có sự khác biệt về hiệu quả sống còn và khả năng chuyển đổi phẫu thuật triệt căn.
- Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của chấn thương mắt: Nghiên cứu trên 1.257 bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Mắt Trung ương
- Đặc điểm hành vi tự sát ở người bệnh rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng rượu tại Viện Sức khỏe tâm thần
- Đặc điểm kiểu hình rối loạn đông cầm máu trên ROTEM ở trẻ sơ sinh đủ tháng nhiễm khuẩn sơ sinh
- Thực trạng rối loạn giấc ngủ ở người bệnh rối loạn trầm cảm tái diễn tại Viện Sức khỏe tâm thần – Bệnh viện Bạch Mai
- Nồng độ Interleukin-6 huyết thanh, mối liên quan với mức độ nặng và kết quả điều trị ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối nguyên phát tại Bệnh viện Đa khoa Tây Ninh





