Kết quả trong 6 tháng sau thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng ở người bệnh xơ gan
Tác giả: Bùi Ngọc Hải, Phan Quốc Hưng, Lê Quang Hưng, Phạm Huy Lam, Đặng Đình Thắng, Lê Thu Loan, Nguyễn Phạm Tuấn Thành, Lê Tuấn Anh, Đào Việt HằngTóm tắt:
Nghiên cứu tiến cứu mô tả kèm theo dõi dọc nhằm đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả theo dõi trong 6 tháng của 179 người bệnh xơ gan có giãn tĩnh mạch thực quản được thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng tại Trung tâm Nội soi, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (1/2024 - 8/2025). Tuổi trung bình của người bệnh là 61,21 ± 9,93. Nam giới chiếm đa số (88,3%). Phần lớn người bệnh có mức độ xơ gan Child Pugh A (52%); giãn tĩnh mạch thực quản độ III (98,3%). Giãn toàn bộ thực quản chiếm 57%, búi giãn có kích thước ≥ 5 mm; 91,1% và có dấu đỏ 92,2%. Đau ngực nhẹ và vừa sau thắt chiếm 20,1%. Sau 6 tháng theo dõi, người bệnh có xuất huyết tiêu hoá do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản là 2,8%; 40,8% người bệnh phải thắt lại tĩnh mạch thực quản ít nhất 1 lần. Việc sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc giúp giảm tỷ lệ phải thắt lại xuống còn 0,54 lần so với nhóm không dùng thuốc (95% CI không chứa 1). Thắt tĩnh mạch thực quản dự phòng là phương pháp an toàn với tỷ lệ biến chứng thấp. Tỷ lệ tái phát liên quan chặt chẽ đến mức độ tuân thủ điều trị thuốc chẹn beta giao cảm không chọn lọc của người bệnh.
- Giá trị của tỷ lệ thể tích lách trên tổng thể tích gan-lách [SV/(LV+SV)] trên cắt lớp vi tính trong đánh giá xơ gan
- Đánh giá tình trạng thiếu máu và liên quan Child-Pugh ở người bệnh viêm gan mạn tính và xơ gan do HBV
- Thang điểm Clif – C AD trong tiên lượng bệnh nhân xơ gan mất bù
- Nồng độ cortisol toàn phần huyết thanh ở bệnh nhân xơ gan có nhiễm trùng dịch cổ trướng
- Giá trị tiên lượng của chỉ số ABIC ở bệnh nhân xơ gan do rượu





