Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân có biến chứng chảy máu do tán sỏi mật qua da bằng laser tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Xuân Toàn, Nguyễn Thái BìnhTóm tắt:
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân (BN) tán sỏi mật qua da (TSMQD) bằng LASER có biến chứng chảy máu tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang trên 26 BN có chảy máu sau TSMQD bằng LASER tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 3/2020 – 03/2025. Kết quả: 26 BN (tuổi trung bình là 63,7 ± 13,4 tuổi, trong đó nữ giới chiếm 61,5%) có chảy máu đường mật cần can thiệp. Viêm đường mật trước can thiệp được ghi nhận ở 76,9%, xơ gan ở 38,5%. Nguồn chảy máu xác định trên chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) từ động mạch (ĐM) gan chiếm 65,4% (17 BN), nhu mô gan 15,4% (4 BN), tĩnh mạch (TM) gan và/hoặc TM cửa 15,4% (4 BN), từ cả ĐM và TM gan 3,8% (1 BN). Trên cắt lớp vi tính (CLVT) có 19,2% (5 BN) quan sát thấy chảy máu từ ĐM. Sự sụt giảm Hemoglobin (Hb) trung bình là 18 g/L và INR tăng từ 1,05 lên 1,26 sau can thiệp. Kết luận: Chảy máu sau TSMQD bằng LASER là biến chứng hiếm gặp nhưng nguy hiểm, có thể gặp do tổn thương các mạch máu gan hay từ nhu mô gan. Biến chứng này thường gặp ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như viêm đường mật, xơ gan và sử dụng cổng tán sỏi cỡ lớn. Chụp DSA có vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán nguồn chảy máu và điều trị.
- Đánh giá kết quả điều trị đục thể thuỷ tinh có đồng tử kém giãn bằng phẫu thuật phaco kết hợp móc mống mắt
- Khẩu phần 24 giờ và một số yếu tố liên quan của người bệnh ung thư thực quản trước phẫu thuật mở thông dạ dày tại Bệnh viện K năm 2024 – 2025
- Cải thiện chức năng vận động và chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân thoái hóa khớp gối giai đoạn II-III sau điều trị bằng huyết tương giàu tiểu cầu tự thân
- Đánh giá nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân viêm cột sống dính khớp theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam 2022
- Tổn thương van tim ở người bệnh viêm thận lupus tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2024 – 2025





