Vai trò của thời gian nhân đôi thyroglobulin trong đánh giá tái phát, di căn ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa
Tác giả: Nguyễn Quang Cường, Lê Thị Thùy Trang, Lê Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Duy TrìTóm tắt:
Mối liên quan giữa Tg-DT với biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. So sánh hiệu quả của việc sử dụng Tg-DT và Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: 47 bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính, được chụp 18F – FDG PET/CT nhằm đánh giá tái phát, di căn tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2024. Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu. Kết quả: 18F – FDG PET/CT phát hiện được tổn thương tái phát ở 34 bệnh nhân (72,3%), trong đó phát hiện di căn xa ở 13 bệnh nhân (27,6%). Tg-DT thấp hơn có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có PET/CT dương tính so với nhóm PET/CT âm tính (p = 0,03) cũng như giữa nhóm có di căn xa và không có di căn xa (p = 0,04). Phân tích đường cong ROC, Tg-DT có độ chính xác cao hơn Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Ngưỡng cut-off Tg-DT ≤ 29 tháng cho độ nhạy 88,2% và độ đặc hiệu 69,2% trong dự đoán PET/CT dương tính, trong khi Tg-DT ≤ 23 tháng cho độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 84,6% và 41,2% trong dự đoán hình ảnh di căn xa trên PET/CT. Kết luận: Tg-DT là một chỉ số có giá trị tốt hơn Tg đơn thuần trong dự đoán kết quả tái phát, di căn trên 18F – FDG PET/CT ở bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính.
- Về cách tiếp nhận quan hệ ngữ nghĩa ở bậc từ
- Bàn về các phương pháp nhận diện ẩn dụ ý niệm
- Đối chiếu ẩn dụ ý niệm chỉ nỗi buồn trong tiếng Anh và tiếng Việt
- Hoạt động “dạy học phản ánh” của giảng viên trong lớp học tiếng Anh : khảo sát trường hợp
- Từ “盡”, “尽” trong tiếng Hán và từ Hán Việt “tận” trong tiếng Việt





