CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Ung thư tuyến giáp

  • Duyệt theo:
1 Vai trò của thời gian nhân đôi thyroglobulin trong đánh giá tái phát, di căn ở bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa / Nguyễn Quang Cường, Lê Thị Thùy Trang, Lê Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Duy Trì // Y học Việt Nam (Điện tử) .- 2025 .- Số CD1 .- Tr. 9 - 16 .- 610

Mối liên quan giữa Tg-DT với biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. So sánh hiệu quả của việc sử dụng Tg-DT và Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: 47 bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính, được chụp 18F – FDG PET/CT nhằm đánh giá tái phát, di căn tại khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2024. Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu. Kết quả: 18F – FDG PET/CT phát hiện được tổn thương tái phát ở 34 bệnh nhân (72,3%), trong đó phát hiện di căn xa ở 13 bệnh nhân (27,6%). Tg-DT thấp hơn có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có PET/CT dương tính so với nhóm PET/CT âm tính (p = 0,03) cũng như giữa nhóm có di căn xa và không có di căn xa (p = 0,04). Phân tích đường cong ROC, Tg-DT có độ chính xác cao hơn Tg đơn thuần trong dự đoán biểu hiện hình ảnh tái phát hoặc di căn trên 18F – FDG PET/CT. Ngưỡng cut-off Tg-DT ≤ 29 tháng cho độ nhạy 88,2% và độ đặc hiệu 69,2% trong dự đoán PET/CT dương tính, trong khi Tg-DT ≤ 23 tháng cho độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 84,6% và 41,2% trong dự đoán hình ảnh di căn xa trên PET/CT. Kết luận: Tg-DT là một chỉ số có giá trị tốt hơn Tg đơn thuần trong dự đoán kết quả tái phát, di căn trên 18F – FDG PET/CT ở bệnh nhân UTTGTBH sau điều trị, có xạ hình toàn thân âm tính.

2 Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa trên nền viêm giáp Hashimoto : những thách thức khi phẫu thuật bảo tồn tuyến giáp / Nguyễn Giang Sơn, Trần Ngọc Lương, Nguyễn Văn Lộc // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 116 - 120 .- 610

Ung thư tuyến giáp biệt hóa trên nền viêm giáp Hashimoto gây nhiều biến đổi về giải phẫu, mô học, và chức năng tuyến giáp gây ra nhiều thách thức trong phẫu thuật bảo tồn tuyến giáp. Mục tiêu đánh giá các đặc điểm bệnh học ảnh hưởng đến quyết định phẫu thuật bảo tồn tuyến giáp Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 39 bệnh nhân có khối ung thư < 2 cm trên nền viêm giáp Hashimoto được phẫu thuật cắt thùy ± nạo hạch trung tâm từ tháng 5/2023 – tháng 5/2024 tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Kết quả: Phần lớn bệnh nhân là nữ giới ở độ tuối trung niên (38,2 ± 8,9 tuổi), với tiền sử viêm giáp mạn tính từ 3 năm chiếm đa số, anti-TPO dương tính 97,4% bệnh nhân, 87,2% chẩn đoán với khối u >1cm và 89,7% xuất hiện hạch nghi ngờ trên siêu âm, tuy nhiên chỉ 2,6% có kết quả FNA hạch di căn. Cắt thùy tuyến giáp + nạo hạch trung tâm là phương pháp điều trị chính, với ung thư tuyến giáp thể nhú chiếm 100%, hạch di căn 23,5%. Biến chứng sau mổ duy nhất là khàn tiếng với 10% bệnh nhân bị ảnh hưởng. Khám lại sau 3 tháng không phát hiện tái phát, di căn, chỉ hơn 64,1% đạt mục tiêu điều trị bình giáp sau phẫu thuật. Kết luận: Phẫu thuật bảo tồn điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa trên nền viêm giáp Hashimoto có nhiều thách thức cần giải quyết, nhưng là phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị giai đoạn sớm của bệnh.