Đánh giá kết quả điều trị u nguyên bào võng mạc bằng truyền hóa chất động mạch mắt
Tác giả: Nguyễn Thái Hoàng, Vũ Đăng Lưu, Nguyễn Quang Anh, Nguyễn Hữu An, Nguyễn Tất Thiện, Nguyễn Thị Thu Trang, Phạm Thị Minh Châu, Nguyễn Thành Nam, Lê Thị Lan AnhTóm tắt:
Nhằm đánh giá kết quả điều trị u nguyên bào võng mạc bằng truyền hóa chất động mạch mắt. U nguyên bào võng mạc là khối u thuộc nhóm u nguyên bào thần kinh, phát sinh từ tế bào nón trên võng mạc. Truyền hóa chất qua động mạch mắt có ý nghĩa trong điều trị bảo tồn thị lực cũng như thời gian sống thêm của bệnh nhân u nguyên bào võng mạc. Trên siêu âm phát hiện 9/27 khối u có hình ảnh vôi hóa chiếm 23,4% tổng số khối u. Trên phim cộng hưởng từ phát hiện 5/25 khối u có hình ảnh vôi hóa chiếm 13,5% tổng khối u. Tỉ lệ phát hiện bệnh trên phim cộng hưởng từ/ số bệnh nhân 85%. 97% bệnh nhân dùng Melphalan đơn thuần, 3% dùng hỗn hợp thuốc Carboplatin, Topotecan, Alkeran. Tại thời điểm 3,6,9 tháng, theo dõi được 100% số bệnh nhân (30 mắt), trong đó mắt còn được bảo tồn chiếm lần lượt là 76,7%, 70% và 66,7%. Sau 12 tháng có 58,6% mắt được bảo tồn trong tổng số 29 mắt theo dõi, 1 mắt chưa đủ thời gian theo dõi. Sau 15 tháng có 55,6% mắt được bảo tồn trong số 27 mắt được theo dõi, 2 mắt chưa đủ thời gian theo dõi. Sau 18 tháng có 41,7% mắt được bảo tồn trong số 27 mắt được theo dõi, 3 mắt chưa đủ thời gian theo dõi. U nguyên bào võng mạc có thể phát hiện qua khám lâm sàng kết hợp hình ảnh siêu âm và cộng hưởng từ. Truyền hóa chất qua đường động mạch mắt điều trị u nguyên bào võng mạc có hiệu quả giảm kích thước khối u, có tỉ lệ đáp ứng điều trị cao.
- Bước đầu khảo sát đặc điểm biến thể xoang tĩnh mạch sọ não trên MRI ở bệnh nhân đau đầu mạn tính
- Độ sâu xâm lấn trên cộng hưởng từ và tình trạng di căn hạch cổ ở ung thư lưỡi
- U thận chứa mỡ ở trẻ em: Báo cáo ca bệnh u quái thận nguyên phát và u nguyên bào thận dạng quái
- Đánh giá độ dày xương và mô mềm khẩu cái trên phim CBCT (Cone-Beam Computed Tomography)
- Nhận thức về vi-rút HPV của sinh viên y dược: Từ những hiểu lầm về phòng bệnh đến sự thiếu hụt kiến thức ở nam giới





