9491Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp viễn thông niêm yết trên sàn chứng khoán
Kết quả nghiên cứu cho thấy có 2 nhóm nguyên nhân chính: nhóm các nhân tố bên trong doanh nghiệp và nhóm các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp. Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp viễn thông.
9492Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông niêm yết ở Việt Nam
Nghiên cứu này xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2015 – 2022. Dữ liệu được thu thập từ 19 doanh nghiệp viễn thông và kiểm định bởi mô hình hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm: tỷ suất đầu tư tài sản cố định; hiệu suất sử dụng tài sản; tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần; tỷ suất giá vốn hàng bán.
9493Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại niêm yết
Nghiên cứu và kiểm định tác động của các nhân tố đến hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại niêm yết thông qua 10 biển: quy mô ngân hàng (SIZE), Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP), tỷ suất chi phí phi lãi (CFS), Tỷ lệ tăng trưởng thu nhập (SAGR), tuổi ngân hàng (AGE), tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), tỷ lệ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI), cơ cấu thu nhập (IR-group) và COVID-19. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố nghiên cứu đều có ý nghĩa thống kê và có tác động hiệu quả kinh doanh ở các mức độ và chiều hướng khác nhau: Các nhân tố: SIZE, SAGR, CAP, GDP có tác động cùng chiều đến hiệu quả kinh doanh, các nhân tố: CFS, AGE, LDR. CPI, IR-Group có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh doanh. Hậu COVID-19 đã có tác động không rõ ràng đến hiệu quả kinh doanh. Từ kết quả kiểm định nhóm nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các ngân hàng thương mại niêm yết trong bối cảnh hiện nay.
9494Các nhân tố tác động đến hợp tác lâu dài của nhà bán lẻ với nhà cung cấp
Nghiên cứu đánh giá dịch vụ cung ứng dưới góc nhìn của các nhà bán lẻ. Kết quả của nghiên cứu cho thấy một mối quan hệ hợp tác lâu dài được xây dựng dựa trên sự tin tưởng và cam kết từ các nhà bán lẻ.
9495Các nhân tố tác động đến khả năng áp dụng IFRS của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả căn cứ vào các lý thuyết nền gồm: lý thuyết hành vi có kế hoạch, lý thuyết thể chế xã hội học hiện đại, lý thuyết đại diện và kế thừa các nghiên cứu trước. Để đề xuất mô hình các nhân tố tác động đến khả năng áp dụng IFRS tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
9496Các nhân tố tác động đến khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp
Nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sơ thu thập dữ liệu từ 93 doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, trong 5 năm - từ năm 2014 đến năm 2018, nhằm xác định các nhân tố tác động đến khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp. Bài viết dùng phương pháp nghiên cứu định lượng, với kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tố tác động đến khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp theo mức độ giảm dần là: tỷ số ROA, hành vi điều chỉnh lợi nhuận, tỷ số Nợ phải trả/Tổng tài sản, quy mô doanh nghiệp, tốc độ phát triển của doanh nghiệp và tỷ số giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu /Tổng tài sản. Đây chính là cơ sở góp phần giúp các bên liên quan, đặc biệt là các nhà đầu tư nhận định về khả năng hoạt động liên tục của các doanh nghiệp nhằm đưa ra quyết định kinh tế đúng đắn, kịp thời.
9497Các nhân tố tác động đến khả năng huy động vốn tại ngân hàng BIDV Trà Vinh
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu bào gồm Cron bach’s Alpha, phân tích yếu tố khám phá và phân tích hồi quy đa biến, với kích thước 150 để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn tại ngân hàng BIDV chi nhánh trà vinh. Kết quả nghiên cứu này có thể giúp BIDV Trà Vinh có các giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động vốn.
9498Các nhân tố tác động đến khả năng kiệt quệ tài chính của các doanh nghiệp xây dựng và bất động sản niêm yết tại Việt Nam
Bài viết nghiên cứu xu hướng phát triển của Fintech và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ của ngân hàng thương mại ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.
9499Các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Nghiên cứu cho thấy: (i) Quy mô ngân hàng và chi phí hoạt động có tác động tích cực đến cả ROA và ROE. Vốn ngân hàng có tác động tích cực đến ROA, nhưng tiêu cực đến ROE. Không có mối tương quan giữa quy mô cho vay và khả năng sinh lời của ngân hàng; (ii) NHTM cổ phần có khả năng sinh lời tốt hơn NHTM quốc doanh; (iii) Các nhân tố vĩ mô (lạm phát, tăng trưởng GDP, doanh số giao dịch trên thị trường chứng khoán) đều có tác động tích cực đến ROA và ROE. Cuối cùng, ROA và ROE thể hiện xu hướng suy giảm trong khoảng thời gian 2002-2013.
9500Các nhân tố tác động đến khả năng tiếp cận tín dụng tại các hộ gia đình ở Việt Nam
Bài nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các hộ gia đình Việt Nam bằng phương pháp hồi quy tuyến tính. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ tập dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2018 và 2020 với số lượng 9.396 người dân tham gia thực hiện khảo sát liên quan đến việc sở hữu, sử dụng các dịch vụ tài chính ngân hàng. Kết quả cho thấy, độ tuổi, trình độ học vấn, việc sử dụng internet, số thành viên lao động có tác động ngược chiều với khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình ở Việt Nam. Tình trạng hôn nhân, quy mô hộ gia đình tác động cùng chiều đến khả năng tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình. Tuy nhiên, vẫn có một biến thu nhập đang có dấu tác động trái ngược nhau trong hai mô hình của 2 năm 2018 và 2020. Dựa trên các phát hiện, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị đối với tổ chức tín dụng, hộ gia đình, từ phía môi trường kinh tế - xã hội.





