9291Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ Mobile Banking của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
Tiến hành khảo sát 252 khách hàng cá nhân có sử dụng dịch vụ tại các NHTM trên địa bàn thành phố Quy Nhơn. Kết quả cho thấy có 4 nhân tố: Điều kiện thuận lợi, cảm nhận sự linh hoạt, cảm nhận sự hữu ích và ảnh hưởng xã hội.
9292Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ viễn thông di động 4G của khách hàng tại Việt Nam
Mô hình nghiên cứu được thiết lập từ lý thuyết khuếch tán đổi mới, mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), lý thuyết chất lượng dịch vụ, sự hài lòng khách hàng và chi phí chuyển đổi, nhằm đánh giá ý định chuyển đổi từ dịch vụ 2G, 3G sang sử dụng 4G cho thị trường Việt Nam. Sử dụng các phân tích định lượng (Cronbach Alpha test, CFA, SEM) từ 247 khách hàng đang sử dụng các dịch vụ viễn thông di động, cho thấy ý định sử dụng dịch vụ 4G chịu ảnh hưởng của cả 9 nhân tố đề xuất. Trong đó, chi phí chuyển đổi có tác động tiêu cực đến ý định sử dụng dịch vụ.
9293Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng Mobile money của Gen Z tại Việt Nam
Mới được triển khai tại Việt Nam từ đầu năm nay, Mobile Money vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ, trong khi đó, những phương thức thanh toán số khác như Mobile Banking hay E-Wallet đã rất đỗi thân thuộc với người Việt bởi sự dễ dàng và tiện lợi trong thanh toán mà chúng mang lại. Bài viết được thực hiện thông qua việc tìm hiểu các yếu tố tác động đến ý định sử dụng tiền di động của thế hệ Z tại Việt Nam, bao gồm các yếu tố: nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về độ tin cậy, nhận thức về chi phí giao dịch, ảnh hưởng xã hội, mức độ ưa thích sử dụng tiền mặt, với số liệu thu thập từ 200 mẫu khảo sát từ các cá nhân với độ tuổi trong khoảng 12-27 tuổi.
9294Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng thương mại di động tại Việt Nam
Thương mại di động là bất kỳ giao dịch kinh doanh nào liên quan đến sự trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ được thực hiện trên một nền tảng không dây mà điển hình là điện thoại di động. Mặc dù thương mại di động đang ngày càng trở nên phổ biến ở Việt Nam, tỷ lệ thâm nhập còn thấp so với các quốc gia khác trong khu vực. Mục đích của nghiên cứu này là khảo sát các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thương mại di động của người dùng Việt Nam. Kết quả phân tích dữ liệu được thu thập từ 312 đáp viên trả lời trực tuyến cho thấy có năm nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thương mại di động tại Việt Nam: (1) Tính linh hoạt, (2) Dịch vụ đa dạng, (3) Nhận thức sự hữu ích, (4) Sự tín nhiệm và (5) Nhận thức tính dễ sử dụng.
9295Các nhân tố tác động đến ý định tham gia vào hoạt động Mobile Marketing của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài này nhằm mục đich nghiên cứu về “Các nhân tố tác động đến ý định tham gia vào hoạt động Mobile Marketing của người tiêu dùng tại TP. HCM” dựa trên các cơ sở lý thuyết và khảo lược trong và ngoài nước, tác giả xây dựng lên mô hình nghiên cứu đề xuất và phát triển các giả thuyết nghiên cứu của đề tài. Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng nhằm đo lường mức độ tác động của các nhân tố tác động đến ý định tham gia vào hoạt động Mobile Marketing của người tiêu dùng tại TP.HCM. Kết quả nghiên cứu cho thấy ba nhân tố: Giá trị nhận thức, Sự tin tưởng về thương hiệu và Phong cách mua sắm tác động cùng chiều đến ý định tham gia vào hoạt động Mobile Marketing của người tiêu dùng tại TP. HCM.
9296Các nhân tố tác động đếnviệc vận dụng kế toán quản trị vào lĩnh vực quản lý, khai thác quỹ đất công trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Xác định và đo lường các nhân tố tác động đến việc vận dụng kế toán quản trị vào lĩnh vực quản lý, khai thác quỹ đất công thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và gợi ý một số giải pháp, giúp đơn vị tận dụng được các công cụ quản trị vào trong quản lý.
9297Các nhân tố tác động lên sự hài lòng của nhân viên: Nghiên cứu tại Hà Nội
Bài viết này kế thừa các mô hình nghiên cứu trước đó nhưng đặt trong bối cảnh nghiên cứu là các doanh nghiệp ở Việt Nam. Bằng cách điều tra 155 người đang làm việc tại các doanh nghiệp ở Hà Nội, bài viết chỉ ra rằng sự hài lòng của nhân viên là tổ hợp của 4 yếu tố bao gồm tính chất công việc, tiền lương và phúc lợi, đào tạo và thăng tiến,và quan hệ công việc.
9298Các nhân tố tác động tới chất lượng thể chế khu vực Châu Á giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng bao gồm 16 quốc gia khu vực Châu Á, giai đoạn 2007-2017 để đánh giá các nhân tố tác động tới chất lượng thể chế. Mô hình nghiên cứu sử dụng đánh giá tác động cố định và hồi quy hệ thông hai giai đoạn GMM cho phép xử lý các yếu tố không quan sát được, không thay đổi theo thời gian và hiện tượng nhân quả đồng thời giữa tăng trưởng kinh tế tới chất lượng thể chế. Bên cạnh thu nhập bình quân đầu người, hai nhóm biến được xem xét bao gồm các yếu tố vĩ mô và các yếu tố liên quan đến quản trị nhà nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tăng trưởng kinh tế kết hợp với sự ổn định các thông số vĩ mô tác động mạnh mẽ tới cải thiện chất lượng thể chế. Hơn nữa, ngược lại với tác động không rõ ràng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), cấu trúc nguồn thu ngân sách của chính phủ có ảnh hưởng rõ ràng tới chất lượng thể chế.
9299Các nhân tố tác động tới chỉ tiêu của sinh viên
Trình bày tổng quan nghiên cứu, phân tích thống kê mô tả, thảo luận kết quả nghiên cứu và một vài khuyến nghị.
9300Các nhân tố tác động tới động lực làm việc của cán bộ, công chức
Khái quát chung về động lực làm việc của cán bộ, công chức; Các nhân tố tác động đến động lực làm việc của cán bộ, công chức.





