10191Các yếu tố quyết định chiến lược đa dạng hóa sinh kế của nông hộ : nghiên cứu trường hợp tỉnh Đắk Lắk
Sử dụng bộ dữ liệu bảng của Dự án Kinh tế - xã hội Thái Lan và Việt Nam yêu chiến lược sinh kế của các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk với 362 hộ được lặp lại qua sáu giai đoạn. Mô hình Tobit hai giới hạn để xem xét ảnh hưởng của những đặc điểm nông hộ và cộng đồng đối với các chỉ số đa dạng hóa sinh kế (đo lường thông qua chỉ số đa dạng hóa thu nhập). Kết quả nghiên cứu cho thấy, vốn con người đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích nông hộ đa dạng các hoạt động tạo ra thu nhập. Các nông hộ có trình độ học vấn cao hơn và có năng lực nhiều hơn thường có xu hướng đa dạng hóa sinh kế qua các hoạt động phi nông nghiệp. Từ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra một số hàm ý về chính sách đa dạng hóa sinh kế của nông hộ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
10192Các yếu tố quyết định đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam
Việc thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức của các nhân viên trong doanh nghiệp là cần thiết trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động. Kế thừa mô hình của Burgess (2005), nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của động lực cấp cá nhân, cấp giữa các cá nhân và cấp quan hệ tới thái độ chia sẻ tri thức, và ảnh hưởng của thái độ chia sẻ tri thức tới ý định chia sẻ tri thức. Dữ liệu được thu thập từ 391 bản trả lời của nhân viên đang làm việc trong 4 công ty viễn thông lớn nhất tại Việt Nam. Thông qua phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về đãi ngộ, sự ảnh hưởng và lợi ích xã hội có tác động tích cực tới thái độ chia sẻ tri thức. Trong khi đó, nhận thức về rủi ro có ảnh hưởng tiêu cực tới thái độ chia sẻ tri thức, thái độ chia sẻ tri thức có ảnh hưởng tích cực tới ý định chia sẻ tri thức. Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý hữu ích cho các bên liên quan.
10193Các yếu tố quyết định đến năng suất nhân tố tổng hợp của ngành chế biến thủy sản Việt Nam
Bài viết nhằm phân tích các yếu tố quyết định đến năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của ngành chế biến thủy sản Việt Nam giai đoạn 2015-2020. Đầu tiên, chúng tôi sử dụng phương pháp kiểm soát hàm của Wooldridge (2009) để ước lượng hàm sản xuất và dự báo TFP. Sau đó, chúng tôi phân tích các yếu tố quyết định đến TFP theo năm khía cạnh: Đặc điểm nội bộ của doanh nghiệp; Hoạt động thương mại quốc tế; Hạn chế tài chính; Cường độ cạnh tranh; và Môi trường sản xuất, kinh doanh. Kết quả cho thấy Tuổi và quy mô doanh nghiệp có quan hệ thuận chiều với cả mức TFP và tăng trưởng TFP. Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có mối quan hệ ngược chiều với TFP, nhưng thuận chiều với tăng trưởng TFP. Yếu tố xuất nhập khẩu có mối quan hệ tích cực với năng suất, nhưng dư nợ tín dụng thì ngược lại. Cường độ cạnh tranh tác động tích cực đến mức TFP, nhưng tác động tiêu cực đến tăng trưởng TFP. Cuối cùng, các yếu tố về môi trường sản xuất, kinh doanh có mối quan hệ thuận chiều với năng suất.
10194Các yếu tố quyết định đến thành công của một Hệ thống Quản lý điểm đến
Tìm hiểu ý định tham gia và áp dụng công nghệ của các đơn vị, cơ quan, tổ chức; đề xuất một mô hình triển khai Hệ thống Quản lý điểm đến nhằm tăng cường phát triển du lịch tại Việt Nam ở cấp quốc gia.
10195Các yếu tố quyết định hệ số an toàn vốn của ngân hàng thương mại Việt Nam, 2006-2010
Sử dụng dữ liệu của 17 ngân hàng từ năm 2006 đến năm 2010, bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt
10196Các yếu tố quyết định lợi nhuận của các công ty tài chính tiêu dùng tại Việt Nam
Nghiên thực hiện nhằm khám phá các nhân tố chính sách ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty tài chính tiêu dùng Việt Nam trong giai đoạn 2016 đến nữa đầu năm 2021. Qua đó các phát hiện nghiên cứu kỳ vọng sẽ giúp các công ty tài chính tiêu dùng Việt Nam định hướng hoạt động, tăng cường các yếu tố tích cực ảnh hưởng đến tăng trưởng lợi nhuận và nâng cao hiệu quả hoạt động.
10197Các yếu tố quyết định lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp
Đề cập đến cacsyeeus tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dưới hai giác độ là doanh nghiệp và khách hàng.
10198Các yếu tố quyết định nhu cầu tín dụng và khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức của nông hộ: Nghiên cứu ở tỉnh Hòa Bình, Việt Nam
Bài viết nghiên cứu các yếu tố quyết định đến nhu cầu tín dụng và quyết định vay vốn từ các tổ chức tín dụng chính thức của nông hộ tại tỉnh Hòa Bình. Chúng tôi tập trung vào sáu đặc điểm nội tại chính mà các tổ chức tín dụng có thể kiểm soát bao gồm lãi suất, yêu cầu tín dụng, quy trình cho vay, chất lượng dịch vụ, thời gian ân hạn và khoảng cách. Sử dụng phương pháp PLS-SEM phân tích dữ liệu thu thập từ 389 nông hộ tại Hòa Bình, kết quả cho thấy lãi suất không làm thay đổi nhu cầu tín dụng nhưng có thể làm giảm ý định vay vốn của hộ nông nghiệp. Bên cạnh đó, các yêu cầu tín dụng thường không có tác động đến cả nhu cầu tín dụng và quyết định của hộ gia đình trong khi chất lượng dịch vụ và thời gian ân hạn luôn có tác động tích cực đến nhu cầu tín dụng và quyết định vay vốn. Kết quả nghiên cứu này giúp các tổ chức tín dụng chính thức có các chính sách để thu hút khách hàng nông hộ.
10199Các yếu tố quyết định số thu thuế ở quốc gia có thu nhập trung bình
Đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế, cấu trúc, thể chế và xã hội đến số thu thuế ở các quốc gia có thu nhập trung bình. Tác giả sử dụng dữ liệu của 50 quốc gia có thu nhập trung bình trong giai đoạn 2000–2013 và ước lượng bằng phương pháp GMM sai phân. Kết quả ước lượng phát hiện trình độ phát triển của quốc gia, độ mở thương mại, chỉ số về quyền chính trị có tác động tích cực đến số thu thuế, trong khi giá trị gia tăng của khu vực nông nghiệp và chỉ số về quyền tự do dân chủ lại có tác động tiêu cực.
10200Các yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp : trường hợp ngành chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ
Bài viết phân tích vấn đề phát triển của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ. Sử dụng mô hình MIXED Effect, nghiên cứu phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp. Kết quả mô hình cho thấy, theo tiêu chí phát triển về lượng, yếu tố vốn vẫn là yếu tố quyết định và yếu tố lao động ít ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng doanh nghiệp. Theo tiêu chí phát triển về chất, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn hoạt động tốt hơn. Đồng thời, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả hơn. Ngoài ra, một số đặc trưng của doanh nghiệp như địa điểm đặt nhà xưởng hay tình trạng tham gia xuất khẩu cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp về mặt chất, nhưng mức độ ảnh hưởng này khác nhau giữa các ngành. Với đa số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, kết quả gợi ý ưu tiên chính sách giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất như chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, cần có chính sách phát triển các khu công nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, và tham gia xuất khẩu.





