Bài viết sử dụng phương pháp phân tích thống kê tổng hợp trên cơ sở thông tin dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các cán bộ, nhân viên của các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Nhà nước, cơ quan công an và hải quan từ tháng 8/2022 đến tháng 11/2022 nhằm đánh giá thực trạng đào tạo và nhu cầu nâng cao nhận thức, xây dựng năng lực, phòng chống rửa tiền tại các đơn vị nêu trên. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các đề xuất, giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo PCRT tại Việt Nam.
Bài viết đề xuất một số vấn đề về dự thảo Luật Các TCTD (sửa đối) cần được nghiên cứu, cập nhật thêm nhằm bao quát xu hướng mới về phát triển dịch vụ ngân hàng trong bối cảnh có những mô hình mới, phương thức cung cấp mới dịch vụ mới tác động mạnh mẽ về mô hình kinh doanh, hệ sinh thái cung cấp dịch vụ ngân hàng cũng như nhằm khắc phục những bất cập từ thực tế triển khai Luật Các TCTD 2010 và Luật sửa đổi một số diều của Luật Các TCTD.
Bài viết chỉ ra rằng, quy định về Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng trở nên kém hấp dẫn và không có tác dụng thúc đẩy hoạt động đầu tư vào một số loại dự án đặc thù được Chính phủ khuyến khích. Từ kết quả phân tích đó, tác giả đưa ra một số đề xuất hoàn thiệm quy đinh này nhằm hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước.
Kết quả cho thấy, nguyên tắc thận trọng trong kế toán có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả của các doanh nghiệp. Vì vậy, các công ty niêm yết trên Sàn Chứng khoán Hà Nội cần thực hiện đầy đủ nguyên tắc quan trọng này.
Bài viết tổng hợp các nghiên cứu trước đây, để tìm ra mối liên hệ giữa kế toán quản trị môi trường và công bố thông tin kế toán môi trường. Từ đó, bài nghiên cứu đưa ra khuyến nghị nâng cao mức độ vận dụng kế toán quản trị môi trường, nhằm cải thiện công bố thông tin kế toán môi trường, trách nhiệm môi trường.
Đánh giá ảnh hưởng của định hướng học hỏi, năng lực tiếp thu và năng lực thích nghi đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Mô hình nghiên cứu được thiết lập dựa trên ứng dụng lý thuyết năng lực động doanh nghiệp và xem xét vai trò điều tiết của cường độ trạnh tranh đến quan hệ giữa các dạng năng lực động và kết quả kinh doanh. Chúng tôi sử dụng một khảo sát và phân tích dữ liệu bằng mô hình cấu trúc (PLS – SEM) từ 432 doanh nghiệp ỏ cả ba khu vực Bắc – Trung – Nam cho thấy định hướng học hỏi, năng lực tiếp thu và năng lực thích nghi đều có ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh. Cường độ cạnh tranh cũng được tìm thấy có vai trò điều tiết quan hệ giữa năng lực thích nghi và kết quả kinh doanh. Cuối cùng nghiên cứu cũng ung cấp một vài hàm ý quan trọng cho các nhà quản trị doanh nghiệp để thiết lập năng lực động đáp ứng với sự cạnh tranh và sự thay đổi của thị trường nhanh chóng như hiện nay.
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Số liệu được sử dụng đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha, phân tích khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Kết quả nghiên cứu khẳng định hầu hết các giả thuyết đề xuất ban đầu đều được chấp nhận, và cũng tương đồng với các nghiên cứu trước đây. Khi người dùng cá nhân nhận thức được rằng việc sử dụng công nghệ mới dễ dàng, hữu ích, đáng tin tưởng và ít rủi ro thì họ sẽ thay đổi thái độ và gia tăng ý định sử dụng dịch vụ ngân hàng số hơn. Đồng thời, nghiên cứu cũng đề xuất một số hàm ý dựa trên kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp hồi quy Hai bước hệ thống GMM (Two-step system Generalized Method of Moments), và sử dụng các kiểm định cần thiết, để đảm bảo kết quả ước lượng của mô hình là vững, không chệch và phù hợp. Kết quả ước lượng của đa số các biến đều có ý nghĩa thống kê và phù hợp với các giả thuyết của mô hình trọng lực. Kết quả thực nghiệm không những khẳng định tầm quan trọng của kết nối vận tải hàng hải đối với xuất khẩu của Việt Nam mà còn kết luận kết nối vận tải đường biển song phương hiệu quả sẽ giúp giảm tác động tiêu cực của khoảng cách địa lý.
Nghiên cứu này cung cấp một mô hình phân tích hệ thống các nhân tố thúc đẩy đổi mới sáng tạo bao gồm: sự tự tin vào năng lực bản thân, văn hóa cởi mở học tập, cảm nhận về tác động xã hội đến hành vi đổi mới sáng tạo trong công việc của giảng viên tại các trường đại học ở Việt Nam. Với dữ liệu khảo sát từ 471 giảng viên, kết quả nghiên cứu cho thấy, sự tự tin vào năng lực bản thân, văn hóa cởi mở học tập, cảm nhận về tác động xã hội có tác động tích cực đến hành vi đổi mới sáng tạo trong công việc. Từ đó, nghiên cứu có đóng góp vào mô hình hành vi đổi mới sáng tạo trong công việc, đồng thời đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo của các giảng viên tại các trường đại học ở Việt Nam.
Phân tích các đặc điểm kinh doanh homestays và đề xuất hướng can thiệp chính sách nhằm giảm nghèo thông qua phát triển du lịch cộng đồng. Dựa trên dữ liệu thu thập từ phỏng vấn 370 hộ ở Tây Bắc Việt Nam và mô hình hồi Heckman 2 bước, kỹ thuật Lasso và thang đo Likert, kết quả cho thấy hầu hết kinh doanh homestays tập trung ở một số tầng lớp thượng lưu, có thành viên gia đình hoặc người thân làm việc tại chính quyền địa phương. Các hộ kinh doanh homestays cũng có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính ngân hàng tốt hơn các hộ khác. Những người dân bản địa mong muốn nhưng gặp trở ngại trong sở hữu homestays do những rào cản như thiếu vốn, kiến thức và các mối quan hệ xã hội. Vai trò của hiệp hội du lịch, hợp tác xã để kết nối sự tham gia và hưởng lợi của người dân từ kinh doanh homestays còn rất hạn chế.