CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Khảo sát mối tương quan giữa loãng xương và một số yếu tố ở bệnh nhân bệnh thận mạn chưa lọc máu / Hoàng Ngọc Diệu Trâm, Nguyễn Hoàng Thanh Vân // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 49 - 55 .- 610
Nghiên cứu nhằm khảo sát mối liên quan giữa loãng xương và các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng trên bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn 3-5 chưa lọc máu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang gồm 101 bệnh nhân tại Khoa Nội Thận - Cơ Xương Khớp, Bệnh viện Trung ương Huế từ tháng 4/2021 đến tháng 6/2023. Mật độ xương được đo bằng phương pháp hấp phụ tia X năng lượng kép. Kết quả: Mật độ xương giảm dần theo tuổi. Mật độ xương ở nữ thấp hơn nam và ở nữ giới mãn kinh thấp hơn nữ giới chưa mãn kinh. Theo tiêu chuẩn phân loại của WHO, loãng xương ở cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, toàn bộ xương đùi có tỷ lệ lần lượt là 53,5%, 7,9%, 21,8%; thiếu xương ở cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, toàn bộ xương đùi có tỷ lệ lần lượt là 23,8%, 24,8%, 40,6%. Tỷ lệ loãng xương trên bệnh nhân bệnh thận mạn tính dựa vào điểm cắt mật độ xương < 0,625 g/cm2 ở cột sống thắt lưng, cổ xương đùi, toàn bộ xương đùi lần lượt là 19,8%, 30,7%, 29,7%. Mật độ xương tương quan nghịch với tuổi ở 3 vị trí đo. Mật độ xương tại cột sống thắt lưng tương quan thuận với BMI (r = 0,206). Mật độ xương tại mỗi đốt sống thắt lưng có mối tương quan nghịch với điểm canxi hóa động mạch chủ bụng từng phân đoạn tương ứng theo thang điểm Kauppila (p < 0,001). Mật độ xương toàn bộ xương đùi tương quan nghịch với phospho (r = -0,209), tích canxi × phospho (r = -0,242) và PTH (r = -0,231). Kết luận: Tỷ lệ thiếu xương và loãng xương ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính cao. Mật độ xương có mối tương quan nghịch với tuổi. Mật độ xương cột sống thắt lưng tương quan thuận với BMI, tương quan nghịch với điểm canxi hóa động mạch chủ bụng. Mật độ xương toàn bộ xương đùi tương quan nghịch với phospho, tích canxi × phospho và PTH.
2 Suy cận giáp sớm sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp do ung thư tuyến giáp thể nhú tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương / Đỗ Gia Nam, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Thị Quỳnh Mai, Lê Hữu Thành // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 64 - 68 .- 610
Mô tả tình trạng suy cận giáp sớm và một số yếu tố liên quan ở người bệnh sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp do ung thư tuyến giáp thể nhú. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 118 người bệnh ung thư tuyến giáp thể nhú được phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp. Đánh giá trình trạng suy cận giáp trong 24 giờ đầu và sau 3 tháng. Kết quả: Tỉ lệ suy cận giáp trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật là 16,9% và tại thời điểm 3 tháng là 3,4%. Nguy cơ suy cận giáp sớm sau phẫu thuật tăng lên ở nhóm người bệnh có nhân ung thư > 20 mm so với nhóm ≤ 10 mm (OR=3,4, CI 95% 1,1-10,7; p < 0,05); có xâm lấn vỏ so với không xâm lấn vỏ (OR=3,7, CI 95% 1,3-10,5; p < 0,05), có nạo cét hạch cổ trung tâm + cổ bên so với không nạo vét hạch (OR=10, CI 95% 1,2-83,6; p < 0,05). Kết luận: Tỉ lệ suy cận giáp trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật cắt tuyến giáp do ung thư tuyến giáp thể nhú cao; đặc biệt ở những đối tượng có nguy cơ.
3 Đánh giá giá trị của CRP so với BISAP trong tiên lượng mức độ nặng ở bệnh nhân viêm tụy cấp / Phùng Thị Quỳnh Hoa, Diệp Quảng Minh, Hồ Tấn Phát // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 56 - 63 .- 610
Xác định nồng độ CRP và thang điểm BISAP ở bệnh nhân viêm tụy cấp; Đánh giá giá trị của CRP so với BISAP trong tiên lượng mức độ nặng và hoại tử của viêm tụy cấp. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 100 bệnh nhân viêm tụy cấp có theo dõi và điều trị tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 12/2021 đến tháng 8/2022. Kết quả: Nồng độ CRP trung bình lúc vào viện và sau vào viện 48 giờ lần lượt là 231,6 ± 134,9 và 201,1 ± 102,0 (mg/L) (p < 0,001). Điểm BISAP ở nhóm bệnh nhân viêm tụy cấp nặng là 2,11 ± 0,96 và không nặng là 1,1 ± 0,91 (p < 0,001). CRP lúc vào viện (điểm cắt 328) có giá trị tiên lượng viêm tụy cấp nặng và hoại tử đều là 0,72 (p < 0,05). CRP sau vào viện 48 giờ (điểm cắt 210) có giá trị tiên lượng viêm tụy cấp nặng là 0,689 (p = 0,012) và không có giá trị tiên lượng viêm tụy cấp hoại tử. BISAP có giá trị trong tiên lượng mức độ nặng viêm tụy cấp và viêm tụy cấp hoại tử ở mức trung bình với AUC lần lượt là 0,771 (p < 0,001) và 0,742 (p < 0,0001). Kết luận: CRP có giá trị trong tiên lượng mức độ nặng ở bệnh nhân viêm tụy cấp, phù hợp để đánh giá nhanh tình trạng và diễn tiến của bệnh nhằm đưa ra quyết định điều trị phù hợp và kịp thời.
4 Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến thai to đủ tháng tại Bệnh viện A Thái Nguyên / Đinh Thuỳ Vân, Phạm Mỹ Hoài // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 49 - 55 .- 610
Xác định một số yếu tố liên quan đến thai to đủ tháng tại Bệnh viện A Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có so sánh được thực hiện tại khoa Sản, Bệnh viện A Thái Nguyên từ 01/06/2023 đến 31/12/2023. Gồm 519 hồ sơ bệnh án của sản phụ sinh con đủ tháng cân nặng từ 3500g trở lên và 519 hồ sơ bệnh án liền kề trước hoặc sau của bệnh án thai to có cân nặng bình thường. Kết quả: Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với thai to là: Tuổi mẹ ≥ 35, nghề nghiệp công nhân viên chức, sinh con ≥ 1 lần, tiền sử sinh con to, chiều cao mẹ > 160cm, cân nặng mẹ khi sinh > 60kg, mẹ bị đái tháo đường thai kỳ. Kết luận: Đái tháo đường thai kỳ, thể trạng mẹ là các yếu tố nên được quan tâm khi quản lý thai nghén, đặc biệt là ở các sản phụ có tiền sử sinh con to.
5 Đặc điểm lâm sàng và kết quả phá thai nội khoa ở tuổi thai đến hết 7 tuần tại Bệnh viện trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên / Đinh Thị Tuyết, Nguyễn Thị Bình, Hoàng Thị Ngọc Trâm // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 43 - 48 .- 610
Mô tả đặc điểm lâm sàng ở thai phụ có thai đến hết 7 tuần tại Bệnh viện trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên và đánh giá kết quả phá thai nội khoa ở nhóm đối tượng trên. Đối tượng nghiên cứu: 120 thai phụ mang thai ngoài ý muốn có tuổi thai đến hết 7 tuần (≤ 49 ngày), tự nguyện đình chỉ thai nghén bằng phương pháp phá thai nội khoa tại Bệnh viện Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên từ 01/06/2023 đến 31/05/2024. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả. Kết quả: Tuổi trung bình là 31,44 ± 6,76 tuổi, học sinh, sinh viên có 16 trường hợp chiếm 13,3%, có 18,4% thai phụ chưa kết hôn, lý do phá thai chủ yếu là đã có đủ số con chiếm 62,5%, phân bố tuổi thai 5 tuần, 6 tuần và 7 tuần lần lượt là 60,8%, 23,3% và 15,9%. Tỷ lệ thành công chung là 94,2%, tỷ lệ thành công ở nhóm có tiền sử nạo hút thai chỉ là 82,3%, thời gian ra máu âm đạo trung bình là 9,44 ± 3,21 ngày, tác dụng không mong muốn đau bụng (95%), buồn nôn (25,8%), rét run (14,2%), mệt mỏi (12,5%), nôn (6,7%) và sốt (3,3%). 90,8% khách hàng hài lòng với phương pháp phá thai nội khoa. Kết luận: Nghiên cứu cho thấy phá thai nội khoa là một phương pháp an toàn và hiệu quả để chấm dứt thai kỳ cho tuổi thai đến 7 tuần, tuy nhiên cần thận trọng với các trường hợp có tiền sử nạo hút thai và sẹo mổ cũ.
6 Đánh giá độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của nguyên liệu sản xuất viên nang cứng Jasmin detox trên động vật thực nghiệm / Chu Quang Truyền, Đỗ Công Tuấn Nghĩa, Đặng // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 37 - 42 .- 610
Độc tính của nguyên liệu M1 được sử dụng để sản xuất thuốc giải độc Jasmin, một loại thực phẩm bổ sung có chứa thành phần chính là Jasminum subtriplinerve, Silybum marianum, Centella asiatica, Solanum Procumbens và Cynara scolymus, đã được đánh giá trong các nghiên cứu độc tính cấp tính và bán mãn tính. Các nghiên cứu về độc tính cấp tính qua đường uống ở chuột ICR không phát hiện thấy các dấu hiệu tử vong hoặc liên quan đến điều trị ở liều 5000 mg/kg/24 giờ trong 72 giờ (LD50 >5000 mg/kg). Lựa chọn liều cho nghiên cứu độc tính cận mãn tính LD50 (500 mg/kg). Sau khi sử dụng M1 liên tục trong 28 ngày với liều lượng này, những con chuột được điều trị không có thay đổi đáng kể về trọng lượng cơ thể, hành vi hàng ngày cũng như trọng lượng của các cơ quan được chọn (gan, lá lách và thận). Các thông số huyết học, chỉ số gan (mức ALT), chỉ số thận (mức creatinine) không bị ảnh hưởng. Nghiên cứu cho thấy nguyên liệu để sản xuất viên nang giải độc Jasmin an toàn khi uống với liều 500 mg/kg bd.w trong 28 ngày.
7 Kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan đến tình trạng tử vong, nặng xin về của bệnh nhi Whitmore tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2017-2023 / Lê Thị Yên, Nguyễn Văn Lâm, Trần Thanh Dương, Phan Thị Thu Chung, Hoàng Thị Bích Ngọc(1), Trần Minh Điển // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 30 - 36 .- 610
Đánh giá kết quả điều trị và một số yếu tố liên quan đến tình trạng tử vong, nặng xin về của bệnh nhi Whitmore tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2017-2023. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả hồi cứu và tiến cứu trên 45 bệnh nhi được chẩn đoán Whitmore được, trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/1/2017 đến 31/12/2023. Kết quả: Có 45 bệnh nhân nhi Whitmore. Số bệnh nhi ≤ 5 tuổi là 26 (57,8%); tỷ lệ nam/nữ là 2/1. Kháng sinh ban đầu đúng theo kinh nghiệm là 28,9%. Thời gian điều trị nội trú trung bình là 21 ± 16 ngày (2-61 ngày). Can thiệp ngoại khoa 64,4%, chủ yếu trích apxe hạch hoặc phẫu thuật mổ đặt dẫn lưu hút mủ apxe hạch (82,8%). Tỷ lệ khỏi bệnh là 84,4% (38/45); tử vong là 15,6% (7/45), cả 7 ca bệnh này đều là nhiễm khuẩn huyết. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng tử vong, nặng xin về là: trẻ nam, trên 5 tuổi, bệnh lâm sàng là nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn, số lượng bạch cầu giảm, số lượng tiểu cầu giảm, CRP trên 98 mg/L và số mẫu bệnh phẩm phân lập được ở mỗi ca bệnh từ 2 loại mẫu trở lên. Kết luận: Kháng sinh chỉ định ban đầu đúng theo kinh nghiệm ở bệnh nhi Whitmore còn thấp. Tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt ở những bệnh nhi nhiễm khuẩn huyết và có sốc nhiễm khuẩn.
8 Độ bền kháng gãy của răng hàm nhò thứ nhất hàm trên đã điều trị nội nha được phục hồi bằng composite và chốt sợi / Nguyễn Thị Minh Huyền, Nguyễn Thị Hạnh Lê Hưng, Lưu Minh Quang, Đinh Diệu Hồng // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 18-24 .- 610
Nghiên cứu so sánh độ bền kháng gãy và khảo sát kiểu nứt gãy của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên đã điều trị nội nha, phục hồi bằng composite và chốt sợi ở các nhóm khác nhau. Nghiên cứu in vitro trên 20 răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên (2 ống tủy) nhể vì lý do chình nha ở người dưới 30 tuổi và được chia thành 4 nhóm (n = 5): nhóm 1 còn đủ thành và nhóm 2 mất một thành được phục hồi bằng composite; nhóm 3 mất hai thành và nhóm 4 không còn thành, được phục hồi bằng composite và chốt sợi. Mau được đo lực nén đến khi nứt gãy, ghi nhận lực tối đa và kiểu nứt. Phân tích với kiểm định ANOVA trên SPSS 25 cho thấy giá trị lực nén của nhóm 1, 2, 3 tương đương nhau và cao nhất ờ nhóm 4 (2272,88 N) (p = 0,003). Mức độ nghiêm trọng nứt gãy tăng khi số lượng thành còn lại của răng giảm. Các vết nứt gãy chủ yếu dọc theo phần tiếp xúc giữa chốt và composite hoặc giữa composite với cẩu trúc còn lại thân răng.
9 Khung pháp lý thúc đẩy kinh tế xanh: bằng chứng thực nghiệm từ Quy hoạch điện VIII / Lê Ngọc Thắng // Luật học .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 13-22 .- 340
Hiện nay, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên đang trở thành những thách thức lớn đối với toàn cầu, và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Trong bối cảnh này, kinh tế xanh đã nổi lên như một yếu tố then chốt, thúc đẩy phát triển bền vững, khuyến khích công nghệ sạch và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên. Quy hoạch điện VIII, được phê duyệt vào tháng 5 năm 2023, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển năng lượng của Việt Nam và được xem là một trong những chiến lược trọng yếu nhằm hiện thực hóa các mục tiêu bền vững và ứng phó với biến đổi khí hậu. Bài viết đã tiến hành nghiên cứu tổng quan về kinh tế xanh và Quy hoạch điện VIII, cùng với việc phân tích các quy định pháp lý hiện có và vai trò của chúng trong việc thúc đẩy kinh tế xanh. Cuối cùng, bài viết đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy hoạch điện VIII, góp phần xây dựng một khung pháp lý linh hoạt và hiệu quả hơn trong việc thúc đẩy kinh tế xanh, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia.
10 Đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội góp phần phát triển nguồn nhân lực pháp luật, tư pháp cho đất nước / Nguyễn Minh Hằng // Nghề luật .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 90-98 .- 340
Trên cơ sở nhận diện những yêu cầu mới đặt ra đối với nguồn nhân lực pháp luật – tư pháp, đặc biệt trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bài viết tập trung phân tích một cách hệ thống vai trò, tính cấp thiết, cơ sở chính trị cũng như thực trạng đào tạo đội ngũ cán bộ pháp luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội trong bối cảnh hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bao gồm đổi mới nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và cơ chế gắn kết giữa đào tạo với thực tiễn nghề nghiệp.