Bài viết nêu lên thực trạng hoạt động thương mại của Việt Nam trên các lĩnh thương mại xuất nhập hẩu hàng hóa và dịch vụ kể từ sau gia nhập WTO. Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính nhằm nêu bật tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2021. Cụ thể, kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, hàng hóa xuất nhập khẩu và thị trường xuất nhập khẩu của VN. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2021 đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận và đặc biệt cán cân thương mại đã thặng dư kể từ năm 2016 cho đến nay. Bên cạnh đó, bài viết cũng nêu lên một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam nhằm làm cơ sở đề xuất một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại của Việt Nam trong thời gian tới Thương mại Việt Nam sau gia nhập WTO & những khuyến nghị.
Chuyển đổi số là xu hướng chính trong sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Một công nghệ mang tính đột phá hiện nay là blockchain, nó đã làm thay đổi nhận thức về lĩnh vực dịch vụ. Các doanh nghiệp trong ngành du lịch đang tham gia vào quá trình phát triển và ứng dụng blockchain như một hành động giúp tối ưu hóa và thúc đẩy lĩnh vực dịch vụ. Bằng phương pháp định tính, bài báo đề cập phân tích thực tiễn trên thế giới và trong nước về việc sử dụng blockchain trong du lịch; tổng hợp và khái quát hóa xu hướng chung và lợi thế ứng dụng blockchain; đồng thời dự báo triển vọng của blockchain theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng trong điều kiện Việt Nam. Nghiên cứu cũng nêu ra các đặc điểm, các điều kiện, những thuận lợi và khó khăn để triển khai công nghệ blockchain trong ngành du lịch. Để đáp ứng mục tiêu phát triển ngành du lịch nước ta trong tiến trình hội nhập quốc tế và thích ứng với bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, việc đưa blockchain vào ngành du lịch cần phải được giải quyết có hiệu quả và đánh giá được; biến việc sử dụng nền tảng blockchain trong ngành du lịch như một nguồn dịch vụ sáng tạo trong tương lai.
Marketing xanh có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe con người và môi trường sinh thái thông qua việc thúc đẩy sản xuất và bản các sản phẩm tinh khiết. thân thiện với môi trường với việc bảo vệ cân bằng sinh thái (Chamorro & Banegil, 2006) nhằm cải thiện chất lượng môi trường và đạt được sự hài lòng của khách hàng (Ottman & cộng sự, 2006). Thông qua phân tích định tính dựa trên dữ liệu thứ cấp, bài viết trình bày thực trạng Marketing (NN) xanh ở VN, từ thực trạng, tác giả bài viết có ba khuyến nghị để phát triển Marketing NN xanh ở VN là cần xây dựng một chiến lược tổng thể Marketing NN xanh VN, nên có sự đầu tư phù hợp cho việc phục hồi những giá trị, kinh nghiệm và phương thức sản xuất truyền thống với những thương hiệu sản phẩm NN truyền thống và tăng cường đầu tư quảng bá hình ảnh NN xanh VN ra thị trường toàn cầu.
Bài viết được thực hiện nhằm xác định các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn ngân hàng để gửi tiết kiệm của khách hàng tại 10 ngân hàng thương mại. Bài viết sử dụng phương pháp định luowngjnvoiws mẫu khảo sát là 265 khách hàng đã đang gửi tiền tiết kiệm tại các NHTM. Kết quả của nghiên cứu đã thu được năm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng để gửi tiết kiệm bao gồm: Nhân tố ảnh hưởng người thân quen, Thuận tiện, Nhân viên, Danh tiếng và Lợi ích tài chính. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất các biện pháp giúp các NHTM này ngày càng thu hút được nhiều khách hàng.
Bài báo nghiên cứu một lớp các phương trình vi phân phi tuyến với nhiễu ngẫu nhiên. Trước tiên, giới thiệu điều kiện Lipschitz cục bộ và điều kiện tăng trưởng phi tuyến mới. Sau đó, sử dụng hàm Lyapunov và định lý hội tụ nửa martingale, nghiên cứu tính ổn định mũ hầu chắc chắn của nghiệm.
Protein điều hòa quá trình đường phân và apoptosis của TP53 trong con đường tăng sinh tế bào ung thư (TIGAR) được chứng minh tăng biểu hiện trong các dòng tế bào ung thư. Do đó, việc tìm kiếm các hợp chất ức chế protein TIGAR được xem là một cách tiếp cận đầy tiềm năng trong việc phát triển các phương pháp điều trị ung thư mới. Trong nghiên cứu này, chúng tôi ứng dụng phương pháp sàng lọc ảo để tìm kiếm các flavonoid có khả năng gắn kết vào vị trí xúc tác của TIGAR. Kết quả cho thấy có 124 flavonoid có ái lực liên kết với TIGAR mạnh hơn hợp chất so sánh. Trong đó, ba hợp chất có ái lực liên kết mạnh nhất là kaempferol-3-O-rutinoside, ligustroflavone và obacunone. Đáng chú ý, hợp chất có ái lực liên kết mạnh nhất với TIGAR là kaempferol-3-O-rutinoside bằng sự hình thành sáu liên kết hydro với các amino acid Thr230, Arg203, Tyr92, Asn17, Gln23, Glu89, cùng với hai tương tác hydrophobic tại amino acid của Leu100 và Lys20. Thêm vào đó, phương pháp mô phỏng động lực học phân tử cũng được sử dụng để đánh giá tính bền vững của phức hợp protein và hợp chất trong khoảng thời gian 5 ns.
Bài báo cáo này nhằm đánh giá nhận thức, thái độ và hành động của các cơ sở giáo dục Đại học liên quan đến phát triển bền vững đặc biệt là Trường Đại học Kinh tế Tài chính TP.HCM (UEF) . Để từ đó có những hỗ trợ cần thiết cho sự phát triển của giáo dục bền vững. Các trường đại học không những cần đưa giáo dục bền vững vào chương trình đào tạo mà cần nên lồng ghép các khía cạnh bền vững vào sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu và triết lý trong cơ cấu quản lý của họ.
Chuyến đi Bắc Kinh của vua Quang Trung dự tiệc mừng sinh nhật hoàng đế Càn Long là một dấu mốc quan trọng trong quan hệ ngoại giao Trung Quốc và An Nam (Việt Nam). Do hiểu nhầm từ một bản tấu của đại thần nhà Thanh là Phúc Khang An, hoàng đế Càn Long cho rằng vua Quang Trung quan tâm đến long bào rất được quý trọng của triều đình nhà Thanh. Sự hiểu nhầm này đã dẫn đến một hành động vô tiền khoáng hậu là Càn Long đã ban triều phục và các phụ kiện cho vua Quang Trung, ban cho ông mọi tước vị của một hoàng thân. Thông qua đối chiếu một văn bản thư tịch ngoại giao của các văn thần Tây Sơn soạn thảo trích trong Bang giao hảo thoại và văn bản đã được biên tập của một đại thần nhà Thanh (do Trần Kỳ Nguyên sưu tầm trong Dung Nhàn trai bút ký) đã tiết lộ những câu chuyện thú vị từ hậu trường quan hệ ngoại giao giữa triều đình An Nam và Trung Hoa vào cuối thế kỷ XVIII.
Bài nghiên cứu này tập trung tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp logistics đối với cơ chế một cửa quốc gia VNACCS thông qua chất lượng dịch vụ. Dữ liệu được thu thập từ 450 nhân viên làm việc tại các công ty trong lĩnh vực xuất nhập khẩu và logistics tại TP.HCM với số phiếu hợp lệ là 432 phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có hai yếu tố tác động trực tiếp đến sự hài lòng là nhân lực và hệ thống khai báo hải quan VNACCS, và hai yếu tố có tác động trung gian một phần đến sự hài lòng thông qua chất lượng dịch vụ là thủ tục và chi phi lệ phí. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao sự hài lòng của doanh nghiệp logistics trên địa bàn TP.HCM.
Bài viết nhằm tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm các yếu tố tác động đến các chính sách hỗ trợ tài chính cho người lao động yếu thể tại tỉnh Bình Dương, tài chính cho người lao động yểu thể như: Hồ sơ, thủ tục có liên quan đến chính sách Trình độ học vấn, Độ Tuổi; Ngành nghề làm việc; Thu nhập trung bình hàng tháng: Giới tỉnh của người lao động. Qua phân tích từ dữ liệu khảo sát với 215 người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau trên địa bàn thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nhằm phân tích những khó khăn mà người lao động gặp phải khi tiếp cận các chính sách hồ trợ. Kết quả mô hình nhị phân Binary Logistic cho thấy các yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ tài chính cho người lao động bao gồm các yếu tố có thủ tự như sau: Hồ sơ, thủ tục tiếp cận chính sách, Giới tỉnh, Trình độ học vấn và Tuổi. Các biến Ngành nghề, Thu nhập trung bình hàng tháng không có ý nghĩa thống lên biến phụ thuộc khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ.