Trình bày Kinh tế chia sẻ và lợi ích của kinh tế chia sẻ. Quản lý thuế đối với KTCS ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra. Giải pháp tăng cường quản lý thuế đối với KTCS tại Việt Nam.
Hoạt động ứng dụng công nghệ tài chính vào thanh toán tại Việt Nam đã có những thành tựu nhất định. Số lượng tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán ứng dụng công nghệ tài chính tăng nhanh chóng với các sản phẩm thanh toán hiện đại, tiện ích như ví điện tử, tiền di động, thanh toán không tiếp xúc,... Với những ưu việt của các sản phẩm thanh toán này đã thu hút được sự quan tâm được khách hàng, thể hiện qua số lượng và giá trị giao dịch tăng trưởng ngoạn mục. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng đó, vẫn tồn tại một số hạn chế trong hoạt động này. Bài viết đề xuất một số giải pháp để góp phần thúc đẩy ứng dụng công nghệ tài chính trong thanh toán tại Việt Nam.
Cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, đến nay, hầu hết những nhà đầu tư chứng khoán đã chuyên nghiệp hơn, biết phân tích thông tin một cách hợp lý để đưa ra các quyết định nhằm tối đa hóa lợi ích của mình. Tuy nhiên việc nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa nhận thức rủi ro, không chắc chắn và lợi nhuận mong đợi (kết quả đầu tư được nhận thức), dựa vào lý thuyết tài chính truyền thống và hiện đại (tài chính hành vi) là việc vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của thị trường chứng khoán.
Sự phát triển của công nghệ tài chính (Fintech) trong những thập niên gần đây đã tác động và làm thay đổi sâu sắc toàn bộ hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM). Vì vậy, thuật ngữ Fintech trở nên phổ biến và thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Bài viết tập trung làm rõ các nội dung của Fintech, phân tích các tác động của nó tới hoạt động NHTM và khái quát tác động, mối quan hệ giữa công ty Fintech và NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự hợp tác cùng phát triển giữa các công ty Fintech với các NHTM tiếp tục là xu hướng chủ đạo trong thời gian tới và đề xuất một số khuyến nghị.
Lý thuyết các bên liên quan có nguồn gốc từ lý thuyết về tính hợp pháp, lý thuyết thể chế và lý thuyết về đạo đức. Lý thuyết này cho rằng doanh nghiệp tồn tại không chỉ phục vụ lợi ích của các cổ đông mà còn cần cân bằng và phục vụ lợi ích của các bên liên quan của doanh nghiệp. Các bên liên quan thường quan tâm đến các khía cạnh: tài chính, xã hội và môi trường. Hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến các khía cạnh này cần được công bố và giải trình với các bên liên quan. Kế toán được cho là công cụ hữu ích giúp việc công bố thông tin cho các bên liên quan được diễn ra.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét ảnh hưởng của nguyên tắc thận trọng đến giá trị hợp lý của doanh nghiệp dưới sự tác động của các biến kiểm soát. Mẫu nghiên cứu gồm 150 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2019-2021. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết quả cho thấy mô hình tác động cố định (FEM) là phù hợp nhất và nguyên tắc thận trọng trong kế toán ảnh hưởng cùng chiều đến giá trị hợp lý của doanh nghiệp cùng với sự tác động của 04 nhân tố kiểm soát: Tổng Tài sản; Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản; Tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu; Tỷ lệ chi trả cổ tức, trong khi đó nhân tố Tỷ lệ thanh toán hiện hành dường như không có ảnh hưởng.
Nghiên cứu này đánh giá tác động của yếu tố vĩ mô và yếu tố nội tại đến TGCP ngành ngân hàng với bộ dữ liệu từ năm 2014 đến 2021. Chúng tôi sử dụng mô hình ảnh hưởngngẫu nhiên (REM) và mô hình ảnh hưởng cố định (FEM) để phân tích. Kết quả cho thấy REM là phù hợp để xem xét các yếu tố tác động tới TGCP. Nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng (GDP) và tỷ giá hối đoái (EX) có ý nghĩa thống kê và tác động cùng chiều lên biến TGCP (PRI) và tỷ lệ lạm phát (INF) tác động nghịch chiều lên PRI. Đối với những yếu tố nội tại trong NH như qui mô (ASS), hệ số giá trên thu nhập (PE), thu nhập thuần trên mỗi điểm giao dịch (IBR) tác động cùng chiều lên TGCP của các NH thương mại niêm yết trên Thị trường chứng khoán Việt Nam.
Các xét nghiệm CA125 và HE4 được chỉ định phổ biến trong chẩn đoán ung thư buồng trứng, mỗi xét nghiệm có vai trò khác nhau trong chẩn đoán và theo dõi điều trị. ROMA test (Risk of Ovarian Malignancy Algorithm) là một chỉ số xét nghiệm dựa trên thuật toán kết hợp kết quả của CA125 và HE4, đi kèm với tình trạng kinh nguyệt, để từ đó đánh giá khả năng mắc ung thư buồng trứng. Nghiên cứu xem xét giá trị của ROMA test trong chẩn đoán ung thư buồng trứng trên phụ nữ có khối u ở vùng chậu buồng trứng đến khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xây dựng hoàn thiện quy trình chẩn đoán bệnh tăng sản thượng bẩm sinh thể thiếu enzyme 21-hydroxylase trước làm tổ và ứng dụng quy trình chẩn đoán bệnh tăng sản thượng bẩm sinh thể thiếu enzyme 21-hydroxylase trước làm tổ cho gia đình đã có con bị bệnh. 4 mẫu máu EDTA ngoại vi và 4 mẫu phôi ngày 5 được lấy từ một gia đình có con mang biến thể gây bệnh trên gen CYP21A2. Phương pháp phân tích di truyền liên kết được sử dụng để phát hiện bốn STR được chọn liên kết chặt chẽ với gen CYP21A2 mang biến thể gây bệnh ở các cặp vợ chồng và con của họ.
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ kháng kháng sinh cao trên thế giới. Vì vậy, nhu cầu phát triển sản phẩm kháng sinh mới từ nguồn nguyên liệu trong nước là rất cấp thiết. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân lập, định danh các chủng vi nấm biển có hoạt tính kháng vi sinh vật (VSV) từ đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng. Từ 105 mẫu biển, đã phân lập được 31 chủng vi nấm biển. Tất cả 31 chủng vi nấm đều thể hiện hoạt tính kháng VSV, trong đó, 8/31 chủng kháng ít nhất 4/7 chủng VSV thử nghiệm, 4/31 chủng kháng vi khuẩn Gram âm và 26/31 chủng kháng nấm. Các chủng vi nấm biển đã được định danh dựa trên hình thái hoặc trình tự gen 18S rRNA. Trình tự gen 18S rRNA 3 chủng vi nấm biển có hoạt tính kháng VSV tốt nhất đã được đăng ký trên ngân hàng gen quốc tế (GenBank-NCBI) với mã số là MW015803; MW015806 và MW015807.