CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Mô hình học sâu phát hiện và nhận diện mã container áp dụng trong vận hành cảng thông minh / Mã Chí Hiếu,Trần Quang Trường, Lê Tuấn Anh // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 191 - 197 .- 004
Thị giác máy tính, một lĩnh vực quan trọng trong trí tuệ nhân tạo, đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp. Dựa trên kiến trúc mạng nơ-ron tích chập (CNN), nhiều mô hình tiên tiến đã được xây dựng để giải quyết các vấn đề như phát hiện đối tượng, phân đoạn hình ảnh, nhận diện ký tự quang học (OCR)... Trong số đó, YOLO nổi bật với khả năng phát hiện đối tượng nhanh và chính xác; và EasyOCR là một công cụ hiệu quả trong nhận dạng ký tự với độ chính xác cao. Nghiên cứu hiện tại tập trung vào việc phát hiện và nhận diện mã thông qua sự kết hợp giữa mô hình YOLOv11 và EasyOCR. Nội dung nghiên cứu bao gồm xây dựng tập dữ liệu, huấn luyện mô hình và đánh giá hiệu suất của mô hình. Kết quả thực nghiệm cho thấy mô hình đề xuất đạt độ chính xác trên 90%, chứng tỏ tính khả thi và tiềm năng ứng dụng trong các hệ thống thực tế trong các cảng thông minh.
2 Tính chất kỹ thuật ở độ tuổi sớm của vữa bơm cường độ cao chứa các loại cát khác nhau / Nguyễn Ngọc Thành // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 175 - 182 .- 620
Nghiên cứu này chủ yếu tập trung khảo sát tính chất kỹ thuật (độ lưu động, cường độ chịu nén và tính co ngót khô) ở độ tuổi sớm của vữa cường độ cao sử dụng bốn loại cát khác nhau. Tỷ lệ thành phần của vữa cường độ cao được lựa chọn cố định, bao gồm tỷ lệ cát/xi măng là 1,5; tỷ lệ silica fume/xi măng là 10%, tỷ lệ phụ gia siêu dẻo/xi măng là 1,5% và tỷ lệ nước/xi măng là 29%. Bốn loại cát với mô đun độ lớn khác nhau (Mdl = 2,46; 3,66; 4,04 và 3,16) được lựa chọn để khảo sát. Kết quả chỉ ra rằng độ lưu động của bốn cấp phối vữa tươi nằm trong khoảng từ 235 – 290 mm và cường độ chịu nén ở 1, 3 và 7 ngày tuổi nằm trong khoảng từ 52,1 – 58,4 MPa; 80,1 – 90,3 MPa và 87,3 – 98,4 MPa. Sau 7 ngày tuổi, các mẫu vữa có giá trị co ngót khô dao động trong khoảng từ 0,031 – 0,045% so với chiều dài ban đầu. Việc sử dụng cốt liệu nhỏ với cỡ hạt lớn (tức mô đun độ lớn cao) đã làm giảm độ lưu động của vữa tươi nhưng cải thiện cường độ chịu nén từ 6,19 – 12,71% ở 7 ngày tuổi và làm giảm tính co ngót khô đến 7 ngày tuổi của các mẫu vữa đã đóng rắn. Tóm lại, cấp phối vữa sử dụng cát có mô đun độ lớn là 3,16 được đề xuất là cấp phối vữa tối ưu do có độ lưu động phù hợp cho phương pháp thi công bơm, cường độ chịu nén tương đối cao (92,7 MPa ở 7 ngày tuổi) và tính co ngót khô thấp (0,031% ở 7 ngày tuổi).
3 Đánh giá thực trạng ứng dụng mô hình thông tin kỹ thuật hạ tầng (BIM) vào công tác quản lý vận hành công trình hạ tầng kỹ thuật giao thông / Nguyễn Anh Thư, Huỳnh Thành Luân // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 169 - 174 .- 624
Đánh giá thực trạng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các quy trình quản lý vận hành hiện tại thông qua khảo sát các chuyên gia trong ngành, nghiên cứu sẽ tìm hiểu quy trình chuyển giao thông tin hoàn công hiện tại và sự cần thiết của các ứng dụng IT vào hỗ trợ các công tác quản lý vận hành các công trình giao thông.
4 Phân biệt các dạng vật liệu ngoại thất và đề xuất cách thức ứng dụng trong thiết kế lớp vỏ bao che kiến trúc / Phạm Thanh Trà // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 245 - 253 .- 624
Vật liệu ngoại thất đóng vai trò quan trọng trong việc định hình thẩm mỹ, đảm bảo độ bền vững, tính chất bao che và hiệu quả năng lượng cho công trình. Bài báo này tổng hợp các cách thức phân loại vật liệu hiện có đồng thời dựa trên nguồn gốc, thành phần và tính chất đặc trưng của vật liệu để đề xuất phân loại các nhóm vật liệu ngoại thất phổ biến và tiềm năng. Ngoài ra, bài báo cũng chỉ ra các ưu nhược điểm của từng loại vật liệu, đề xuất chi tiết và có hệ thống các nguyên tắc, phương pháp lựa chọn và ứng dụng chúng trong lớp vỏ bao che ngoại thất công trình nhằm nâng cao hiệu quả cho thiết kế.
5 Ứng dụng BIM triển khai bản vẽ Shop drawings cốt thép đối công trình hạng mục cảnh quan / Ngô Tuấn Duy, Đào Quý Phước, Nguyễn Triệu Vỹ // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 240 - 244 .- 624
Nghiên cứu phân tích những lợi ích, thử thách trong việc triển khai BIM cho bản vẽ shop drawings cốt thép đối với các công trình xây dựng cho các hạng mục cảnh quan, công trình dân dụng, cơ sở hạ tầng… Tổng hợp kinh nghiệm, và những số liệu thực tế trong quá trình triển khai dự án thực tế. Qua đó, nghiên cứu cung cấp một cái nhìn tổng quan và thực tế hơn về vai trò của BIM trong giai đoạn triển khai shop drawings, đồng thời góp phần nhận diện những khó khăn và thách thức mà ngành xây dựng hiện tại đang đối mặt trong việc ứng dụng công nghệ này.
6 Khám phá các chất ức chế NS3 protease bằng phương pháp in silico : tiềm năng điều trị virus Zika / Lê Văn Sáng, La Trần Thế Duy, Nguyễn Phạm Thanh Hằng, Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Trần Phương Thảo, Nguyễn Ngọc Cẩm Quyên, Hứa Hữu Bằng // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 4 .- .- 610
Xây dựng mô hình pharmacophore cho các hợp chất có tác dụng ức chế enzyme NS3 protease; (2) Từ mô hình pharmacophore thiết lập được, đề tài tiến hành sàng lọc các chất có tác dụng ức chế enzyme NS3 protease từ thư viện ZINC (ZINC database) với công cụ ZINCPharmer. Đối tượng và phương pháp: Xây dựng mô hình pharmacophore thông qua docking hợp chất tham chiếu (hợp chất 1) vào enzyme NS3 protease (PDB ID: 5H4I), sử dụng công cụ ZINCPharmer để sàng lọc ảo từ thư viện ZINC và đánh giá bằng phương pháp docking phân tử thông qua phần mềm AutoDock Vina. Kết quả: Nghiên cứu xây dựng thành công mô hình pharmacophore đặc trưng với ba vòng thơm (Ar), một nhóm kỵ nước và hai nhóm nhận hydro. Sàng lọc ảo từ 21.777.093 hợp chất trong thư viện ZINC thu được 24 hợp chất phù hợp với mô hình pharmacophore. Trong đó, 10 hợp chất thỏa mãn quy tắc Lipinski. Sau đó, thực hiện docking những hợp chất này, kết quả cho thấy năng lượng liên kết với NS3 protease dao động từ -7,5 đến -8,1 kcal/mol. Đặc biệt, hợp chất ZINC08961480 có năng lượng liên kết thấp nhất (-8,1 kcal/mol) và tạo nhiều tương tác quan trọng với các dư lượng amino acid, bao gồm liên kết hydro (Ser135, Tyr150), tương tác π-π xếp chồng (Tyr161), tương tác π-alkyl và alkyl (Val36, Ala132). Kết luận: Nghiên cứu đã xây dựng thành công mô hình pharmacophore, phục vụ sàng lọc các hợp chất có khả năng ức chế enzyme NS3 protease. Từ thư viện ZINC, 24 hợp chất tương thích với mô hình được sàng lọc, trong đó có 10 hợp chất đáp ứng quy tắc Lipinski. Đặc biệt, hợp chất ZINC08961480 có ái lực liên kết nổi trội và tiềm năng phát triển thành thuốc điều trị virus Zika nhờ khả năng tương tác tốt với vị trí hoạt động của enzyme NS3 protease.
7 Phát sinh trường ngẫu nhiên của các thông số đất trong các bài toán địa kỹ thuật xây dựng có xét sự tương quan theo không gian / Võ Thị Tuyết Giang, Nguyễn Võ Trọng // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 95 - 99 .- 624
Bài nghiên cứu đã trình bày cơ sở lý thuyết và giải thuật của phương pháp LAS, đồng thời xây dựng một chương trình tính toán bằng ngôn ngữ lập trình Python. Chương trình này đã được sử dụng để mô phỏng và thực hiện các so sánh sau: so sánh với trường ngẫu nhiên không xem xét tính tương quan, cho thấy mô hình LAS thể hiện rõ tính tương quan này; so sánh các trường hợp khác nhau liên quan đến thông số như phương sai và độ dài tương quan; thực hiện 100.000 lần mô phỏng để so sánh các kết quả đầu vào với kết quả kỳ vọng, phương sai và độ dài tương quan. Kết quả cho thấy mô hình phát sinh đạt mức độ chấp nhận được. Tuy nhiên, chương trình tính này mới chỉ áp dụng cho bài toán một chiều (1-D) và nhóm tác giả đang tiếp tục phát triển để áp dụng vào các bài toán nhiều chiều hơn.
8 Ứng dụng mô hình thông tin BIM-GIS kết hợp công nghệ cao trong việc xây dựng quy trình hoàn công dự án cảng biển tại Việt Nam / Nguyễn Văn Tài, Nguyễn Anh Thư // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 143 - 150 .- 624
Nghiên cứu này đề xuất một quy trình hoàn công mới ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) tích hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS), kết hợp các công nghệ tiên tiến như quét laser 3D, ảnh viễn thám (photogrammetry) và dữ liệu đám mây điểm (Point Cloud). Dữ liệu hiện trạng từ thực tế được đưa vào mô hình BIM-GIS để xây dựng quy trình trực quan, tích hợp không gian, hỗ trợ hiệu quả công tác kiểm soát, đối chiếu, lưu trữ và chia sẻ thông tin. Kết quả cho thấy quy trình giúp tăng minh bạch, giảm sai sót, cải thiện phối hợp, rút ngắn thời gian hoàn công. Quy trình này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý mà còn là bước tiến quan trọng thúc đẩy quá trình số hóa trong lĩnh vực xây dựng hạ tầng cảng biển tại Việt Nam.
9 Đái tháo đường khởi phát sau dị ứng allopurinol : báo cáo một trường hợp hiếm gặp / Trần Doãn Minh Tuấn // Y học cộng đồng (Điện tử) .- 2025 .- Số 4 .- Tr. 36 - 39 .- 610
Báo cáo một trường hợp hiếm gặp về đái tháo đường khởi phát sau dị ứng Allopurinol, nhấn mạnh mối liên quan giữa phản ứng quá mẫn thuốc và rối loạn nội tiết. Phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân nam 65 tuổi nhập viện vì phù mặt và tổn thương da sau khi sử dụng Allopurinol. Dù ngừng thuốc, triệu chứng vẫn tiếp diễn. Sau nhập viện, bệnh nhân được chẩn đoán hội chứng tăng nhạy cảm thuốc và điều trị với corticoid, kháng histamin. Tình trạng toan chuyển hóa không đáp ứng điều trị dẫn đến lọc máu. Bệnh nhân sau đó xuất hiện tăng đường huyết nghiêm trọng, nhiễm toan ceton, được xác định là đái tháo đường típ 1. Kết quả: Các xét nghiệm miễn dịch ghi nhận anti-GAD vùng xám, dương tính với HSV, EBV, CMV, gợi ý vai trò của yếu tố vi-rút trong cơ chế bệnh sinh. Sau điều trị insulin, bệnh nhân ổn định và xuất viện. Kết luận: Đái tháo đường khởi phát sau dị ứng thuốc tuy hiếm gặp nhưng cần được lưu ý trong thực hành lâm sàng. Ở bệnh nhân có phản ứng quá mẫn, nếu xuất hiện toan chuyển hóa không rõ nguyên nhân, cần đánh giá nguy cơ nhiễm toan ceton do tăng đường huyết, ngay cả khi bệnh nhân không có tiền sử đái tháo đường. Việc theo dõi sát bệnh nhân sau dị ứng thuốc là cần thiết để phát hiện kịp thời các biến chứng nội tiết.
10 Đánh giá độ chính xác của mô hình đám mây điểm từ ảnh chụp bằng điện thoại di động phục vụ khảo sát hiện trạng công trình xây dựng / Liêu Lý Khả Minh, Hoàng Quốc Vương, Phan Thị Anh Thư // Vật liệu Xây dựng (Điện tử) .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 127 - 135 .- 004
Nghiên cứu đánh giá độ chính xác của mô hình đám mây điểm 3D tạo từ ảnh chụp bằng điện thoại thông minh, phục vụ khảo sát hiện trạng công trình xây dựng. Thực nghiệm được thực hiện tại tòa nhà A2, Trường Đại học Bách Khoa – ĐHQG Tp.HCM. Tổng cộng 77 ảnh chụp bằng điện thoại Xiaomi 12 có độ phân giải cao được xử lý bằng phần mềm Agisoft Metashape để tái tạo mô hình đám mây điểm, thu được hơn 81 triệu điểm. Mười điểm kiểm soát mặt đất (GCPs) được bố trí và đo tọa độ bằng máy toàn đạc điện tử. Năm trong số đó được sử dụng để hiệu chỉnh mô hình. Độ chính xác được đánh giá theo: (1) sai số vị trí các điểm GCPs và (2) sai số chiều dài 17 cạnh đo thực tế trên công trình. Sau khi nắn chỉnh mô hình với năm GCPs, mô hình được hiệu chỉnh về vị trí và tỷ lệ thực tế. Kết quả cho thấy sai số trung bình tại các điểm GCPs lần lượt là là 0.0126 m theo phương X, 0.0108 m theo phương Y và 0.0151 m theo phương Z với sai số tổng hợp (RMSE) khoảng 2,3 cm. Sai số tuyệt đối chiều dài cạnh dao động từ 0.011 m đến 0.055 m, với giá trị RMSEcạnh là 0.036 m. Sai số tương đối dao động trong khoảng 0.9% đến 4.6 %. Nghiên cứu cho thấy phương pháp chụp ảnh bằng điện thoại kết hợp xử lý bằng phần mềm thương mại có thể đáp ứng yêu cầu độ chính xác trong khảo sát hiện trạng, đặc biệt phù hợp trong điều kiện thiếu thiết bị chuyên dụng, chi phí thấp và cần triển khai nhanh chóng.