Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập theo Nghị định số 34/ngày 08/3/2018 của Chính phủ. Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa đã chứng minh được vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, qua 5 năm triển khai Quỹ bảo lãnh tín dụng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho thấy, còn không ít khó khăn, vướng mắc nảy sinh. Điều này đòi hỏi thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy Quỹ hoạt động hiệu quả hơn trong thời gian tới.
Hầu hết các nước trên thế giới đang trải qua quá trình hội nhập quốc tế ở các mức độ khác nhau và cũng đang chịu những ảnh hưởng và tác động khác nhau từ quá trình toàn cầu hóa. Ở cách tiếp cận này, nền kinh tế liên kết đã xóa bỏ các đường biên giới quốc tế trên bản đồ cạnh tranh, bản đồ thể hiện dòng dịch chuyển thực sự của hoạt động tài chính và công nghiệp, những đường biên giới này đã và đang biến mất trên phạm vi rộng lớn, theo đó các quyền hạn của nhà nước đối với tỉ giá hối đoái... mức thuế, chính sách công nghiệp và tỉ lệ thất nghiệp đã bị bào mòn. Có thể nói, toàn cầu hóa cùng với các thể chế chính trị thế giới có thể làm suy yếu chính phủ các quốc gia không chỉ bằng cách thu hẹp các nguồn lực nằm dưới sự quản lý của nhà nước để kiểm soát tình hình kinh tế - xã hội mà còn bằng cách làm giảm tính chính danh và quyền lực của nhà nước trong mắt công chúng.
Kế toán môi trường (KTMT) là một công cụ quan trọng và cần thiết, không chỉ giúp các doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường mà còn cải thiện hiệu quả kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Hiện nay, kế toán môi trường đang còn là vấn đề rất mới ở nước ta. Do vậy, nghiên cứu thực trạng kế toán môi trường có ý nghĩa quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện và vận dụng trong thực tiễn, góp phần quản lý chi phí, gia tăng lợi nhuận, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, tạo lập bước đi vững chắc cho các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.
Quá trình đẩy mạnh ứng dụng tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn, internet vạn vật... có thể tạo bước nhảy vọt trong việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, đơn giản hóa chuỗi cung ứng và logistics, giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn. Vì vậy, việc chuyển đổi số ở doanh nghiệp góp phần tạo ra động lực phát triển mới, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Bài viết này nghiên cứu hoạt động chuyển đổi số tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam và đưa ra một số đề xuất nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số tại các doanh nghiệp này trong thời gian tới.
Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá sự tác động của mô hình TOES đến việc ứng dụng IoT trong kinh doanh khách sạn. Phiếu khảo sát được gửi tới 325 nhà quan lý từ cấp cơ sở đến cấp cao tại các khách sạn từ 3-5 sao trên địa bàn Hà Nội. Thông qua phương pháp phân tích PLS-SEM, kết quả cho thấy cả 4 nhân tố thuộc mô hình TOES: môi trường công nghệ, môi trường tổ chức, môi trường biên ngoài và môi trường an ninh mạng đều có ảnh hưởng đến ứng dụng IoT tại các doanh nghiệp khách sạn. Các ứng dụng của kết quả nghiên cứu và hạn chế của nghiên cứu cũng được thảo luận ở phần kết luận của nghiên cứu này.
Ứng dụng công nghệ số trong điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là xu thế tất yếu, góp phần mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn, chuyên nghiệp hơn, gia tăng năng suất lao động và tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động ứng dụng công nghệ số của doanh nghiệp Việt Nam, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận bước đầu vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập. Trên cơ sở phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ số của doanh nghiệp Việt Nam thời gian qua, tác giả bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian tới.
Bên cạnh các kiến thức và kỹ năng được đào tạo, nhân viên chứng khoán còn đòi hỏi những yếu tố liên quan đến tâm lý của họ khi thực hành công việc môi giới. Tiếp sau nghiên cứu vốn con người và vốn xã hội, vốn tâm lý là khái niệm được phát triển và thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố của vốn tâm lý (sự tự tin, sự kỳ vọng, sự kiên cường và sự lạc quan) và hiệu suất làm việc của nhân viên ngành chứng khoán, 360 mẫu khảo sát đã được thực hiện tại Hà Nội. Thông qua phương pháp PLS_SEM, kết quả cho thấy cả bốn nhân tố của vốn tâm lý đều có ảnh hưởng tới hiệu suất làm việc của nhân viên ngành chứng khoán.
Trong xu thế hội nhập, các doanh nghiệp cần cung cấp báo cáo tài chính phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó thông tin của tài sản và nợ phải trả cần trình bày theo nguyên tắc giá trị hợp lý nhiều hơn là giá gốc. Giá trị hợp lý đang khẳng định những ưu thế trong định giá. Việc sử dụng giá trị hợp lý được Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính (FASB) ủng hộ và đang chuẩn bị những cơ sở quan trọng cho việc áp dụng rộng rãi tại các quốc gia. Tuy nhiên việc áp dụng giá trị hợp lý là vấn đề gây nhiều tranh cãi trên các diễn đàn nghiên cứu kế toán trong khoảng 2 thập kỷ trở lại đây, đặc biệt trong tiến trình phát triển kế toán ở Việt Nam. Bài viết này đề cập cơ sở lý thuyết về giá trị hợp lý, khái quát thực trạng sử dụng mô hình giá trị hợp lý ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp áp dụng mô hình giá trị hợp lý trong phát triển kế toán ở Việt Nam.
Phát triển khu kinh tế ven biển là hướng đi tất yếu, đầy hứa hẹn của Việt Nam nói chung và các tỉnh Bắc Trung Bộ nói riêng. Bên cạnh những kết quả tích cực, đóng góp rất quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong thời gian qua, khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ vẫn còn bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn lực đã đầu tư. Bài viết thông qua việc phân tích thực trạng phát triển khu kinh tế ven biển ở các tỉnh Bắc Trung Bộ hiện nay, chỉ ra những vấn đề mâu thuẫn đang đặt ra , từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản để khắc phục trong thời gian tới.
Những ứng dụng thương mại điện tử như website bán hàng, mạng xã hội, sàn giao dịch điện tử... được coi là những giải pháp thiết yếu trong thời đại công nghệ thông tin để doanh nghiệp bán hàng trực tuyến có thể tiếp cận và giữ chân khách hàng hiệu quả hơn. Dù những ứng dụng thương mại điện từ này đã trở nên phổ biến với nhiều doanh nghiệp bán lẻ tại Việt Nam nhưng nhiều doanh nghiệp chưa ứng dụng thành công để nâng cao hiệu quả bán hàng trực tuyến. Nghiên cứu này đưa ra một số đề xuất cho các doanh nghiệp để tăng cường ứng dụng thương mại điện tử trong bán hàng trực tuyến tại Việt Nam.