CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

  • Duyệt theo:
1 Vai trò kiến trúc với phát triển bền vững đất nước / Phan Đăng Sơn // Kiến trúc .- 2023 .- Số 3 (334) .- Tr. 11-20 .- 720
Đề cập đến vai trò của kiến trúc với 3 dạng: Vai trò loại hình vật thể; vai trò loại hình phi vật thể (hoạt động đào tạo – nghiên cứu, lý luận – phê bình, phản biện – giám định, chính sách – pháp lý); vai trò người làm kiến trúc (bao hàm cả người không phải là kiến trúc sư).
3 Luật bảo vệ môi trường năm 2020 với vấn đề xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam / Nguyễn Văn Phương // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 02 (162) .- Tr. 45 – 53 .- 340
Xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn lần đầu tiên được đề cập trong các văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc XIII và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Bài viết đánh giá các quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 về xây dựng mô hình kinh tế tuần hoàn và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật nhằm xây dựng thành công mô hình kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam.
4 Chuyển đổi số hướng tới logistics xanh tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam / Phan Đình Quyết Nguyễn Mạnh Hùng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 633 .- Tr. 7 – 9 .- 657
Với các doanh nghiệp, việc “xanh hóa” chuỗi cung ứng được xem như một phần trong chiến lược đầu tư xanh, giúp doanh nghiệp sử dụng hiệu quả nguồn lực sinh thái tự nhiên, thân thiện với môi trường từ đó nâng khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, yếu tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt 1 chứng minh chuyển đổi số có nhiều ảnh hưởng đến thực hành logistics xanh của các doanh nghiệp logistrên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thông qua các số liệu đã được kiểm chứng nghiên cứu sẽ thực trạng chuyển đổi số tại các doanh nghiệp logistics Việt Nam và đề xuất một số giải pháp.
5 Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong chính sách thuế bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam / Nguyễn Thị Lâm Anh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 633 .- Tr. 4 – 6 .- 657
Việt Nam là một trong các quốc gia được đánh giá là trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với sự phong phú và đa dạng về các nguồn gen quý hiếm. Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới mục tiêu phát triển nền kinh tế bền vững, vai trò của bảo tồn đa dạng sinh học lại được quan tâm hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, có rất nhiều thách thức liên quan tới việc bảo vệ và giữ ổn định hệ sinh thái trong bối cảnh ồn kinh tế phát triển nhanh chóng kèm theo hệ quả về ô nhiễm môi trường. Để giải quyết vấn đề trên, ánh phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều chính sách, trong đó chính sách thuế đối với bảo tồn đa dạng sinh học một trong những chính sách rất quan trọng, có khả năng ảnh hưởng tới cấu trúc đa dạng sinh học cũng - nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động này.
6 Cơ hội và thách thức của Vệt Nam trong quả trình thực thi cam kết về biến đổi khí hậu trong hiệp định evfta và một số kiến nghị / Trần Linh Huân // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 02 (162) .- Tr. 102 – 114 .- 340
Việc gia nhập Hiệp định EVFTA được đánh giá là sẽ mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế cho Việt Nam cũng như không ít khó khăn, thách thức, đặc biệt là trong việc thực thi các cam kết về biến đổi khí hậu trong Hiệp định. Xuất phát từ đó, bài viết tập trung làm rõ các cam kết về biến đổi khí hậu trong Hiệp định EVFTA, phân tích chỉ ra một số cơ hội và thách thức mà Việt Nam sẽ gặp phải khi tuân thủ thực thi các cam kết này, từ đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện.
7 Một số suy nghĩ về quy tắc trích dẫn trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam / Phan Trung Hiền, Nguyễn Thị Ngọc Tuyền // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 02 (162) .- Tr. 88 – 101 .- 340
Trích dẫn trong nghiên cứu khoa học luôn là yếu tố quan trọng để đánh giá tính khách quan, tính cập nhật và chất lượng của công trình nghiên cứu khoa học. Bài viết này làm sáng tỏ hình thức và mức độ trích dẫn được xem là hợp lý trong nghiên cứu khoa học, đồng thời phân tích các quy định của pháp luật và thực tiễn hiện nay về việc ghi nhận trích dẫn trong các trường đại học. Từ đó, bài viết đề xuất xây dựng quy tắc trích dẫn hợp lý trong nghiên cứu khoa học ở Việt Nam.
8 Kết quả sơ bộ phẫu thuật nội soi cắt đại tràng kèm toàn bộ mạc treo trong điều trị bệnh lý ung thư đại tràng / Nguyễn Minh Thảo, Đào Thị Minh Hà, Giáp Bạch Kim Tuyến, Phạm Anh Vũ // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2023 .- Tập 163(Số 2) .- Tr. 89-99 .- 610
Phẫu thuật cắt đại tràng kèm toàn bộ mạc treo đại tràng (CME) làm tăng khả năng nạo vét hạch so với phẫu thuật kinh điển trong ung thư đại tràng. Tuy nhiên, phẫu thuật này chưa được coi là một chiến lược an toàn. Đề tài nhằm mục tiêu nghiên cứu một số đặc điểm bệnh học và kết quả sơ bộ của phẫu thuật cắt đại tràng CME trong ung thư đại tràng. Nghiên cứu mô tả trên 30 bệnh nhân được phẫu thuật cắt đại tràng CME từ tháng 5/2021 đến 7/2022.
9 Phẫu thuật nội soi tán sỏi thận qua da đường hầm nhỏ tại Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Yên Bái / Vũ Duy Tân, Nguyễn Trung Hiếu, Diêm Sơn // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2023 .- Tập 163(Số 2) .- Tr. 100-107 .- 610
Phẫu thuật cắt đại tràng kèm toàn bộ mạc treo đại tràng (CME) làm tăng khả năng nạo vét hạch so với phẫu thuật kinh điển trong ung thư đại tràng. Tuy nhiên, phẫu thuật này chưa được coi là một chiến lược an toàn. Đề tài nhằm mục tiêu nghiên cứu một số đặc điểm bệnh học và kết quả sơ bộ của phẫu thuật cắt đại tràng CME trong ung thư đại tràng. Nghiên cứu mô tả trên 30 bệnh nhân được phẫu thuật cắt đại tràng CME từ tháng 5/2021 đến 7/2022.
10 Tỷ lệ rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ 24 - 72 tháng tuổi bằng tiêu chuẩn DSMM-5 / Trần Thiện Thắng, Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Văn Thống, Huỳnh Nguyễn Phương Quang, Đoàn Hữu Ân, Nguyễn Thái Thông, Võ Văn Thi, Nguyễn Văn Tuấn // Nghiên cứu Y học - Trường ĐH Y Hà Nội .- 2023 .- Tập 163(Số 2) .- Tr. 108-117 .- 610
Phổ tự kỷ là một rối loạn phát triển phức tạp có tỷ lệ gia tăng một cách báo động. Từ năm 2013, tiêu chuẩn DSM-5 được sử dụng và tỷ lệ trẻ mắc rối loạn lên đến 2,27% vào năm 2021. Qua thăm khám 3018 trẻ từ 24 - 72 tháng tại các cơ sở nuôi dạy trẻ, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ rối loạn là 1,9%, mức độ cần hỗ trợ của trẻ từ 1 đến 3 tương ứng 43,1%, 36,2% và 20,7%.