Hiện nay, các DNVVN tại Việt Nam thường hướng đến việc cải thiện tài chính chuỗi cung ứng để tối ưu nguồn vốn lưu động. Mặc dù tài trợ tài chính chuỗi cung ứng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy thức hoạt động của công ty, nhưng chủ đề này chưa được nghiên cứu nhiều tại Việt Nam. Do đó, nghiên này đã thực hiện phỏng vấn sâu 89 cán bộ lãnh đạo cấp cao của 84 DNVVN tại Việt Nam và 33 chuyên về SCF để tìm hiểu về vai trò của SCF đối với các DNVVN Việt Nam. Kết quả cho thấy, SCF đã được nhìn ở nhiều khía cạnh.
Phát triển trái phiếu xanh ở Việt Nam là phương thức thúc đẩy quá trình tái cơ xấu nền kinh tới việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm các tác động phát thải nhà kinh, ứng phó đổi ký hấu, thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế. Trái phiếu xanh là một phương thức quan trọng lược tăng trưởng xanh. Bài viết này làm rõ thực trạng trái phiếu xanh ở Việt Nam. Đồng thời, bài đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trái phiếu xanh tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trình bày cơ sở lý luận về kế toán xem xét sự phát triển của các ứng dụng công cụ kế toán chi phí trên thế giới. Từ đó, tác giả đưa ra định về sự phát triển của các công cụ kế toán chi phí truyền thống và hiện đại gắn liền với của doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới và cạnh tranh toàn cầu.
Bài viết đề xuất một số các hàm ý, giải pháp để phát triển sản phẩm du lịch đêm nhằm thu hút khách du lịch đến Thủ đô Hà Nội để phục hồi kinh tế du lịch sau đại dịch Covid-19.
Bài viết phân tích diễn biến của thị trường trái phiếu ngành bất động sản giai đoạn 2018 – 2022, qua đó, nhận định các cơ hội và thách thức đối với thị trường và hàm ý chính sách góp phần hướng đến sự phát triển bền vững. Đã có nhiều chính sách tháo gỡ cho thị trường bất động sản thời gian qua nhưng quan trọng nhất, các doanh nghiệp cần chủ động cân đối tài chính, đặc biệt về xác định cơ cấu nợ hợp lý qua phát hành trái phiếu gắn với các hiệu quả sử dụng vốn, đảm bảo khả năng chi trả khi đáo hạn.
Trí tuệ nhân tạo (AI) là chủ đề được thảo luận nhiều trong thời gian qua. Ngày càng có nhiều tổ chức gia tăng đầu tư để nghiên cứu, khám phá và áp dụng công nghệ AI một cách hiệu quả. Đối với ngành ngân hàng, việc tích hợp AI vào hoạt động là xu hướng tất yếu. Các hệ thống được hỗ trợ bởi Al đã cải thiện đáng kể các hoạt động và gia tăng giá trị cho ngân hàng. Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung xem xét những ứng dụng của AI trong hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, cũng phân tích tương lai của công nghệ AI đổi với hoạt động ngân hàng.
Khái quát nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ phi truyền thống mà các ngân hàng trung ương sử dụng nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và gia tăng sử dụng sau đại dịch Covid-19.
Đề xuất một mô hình giảng dạy sử dụng mạng vô tuyến nhận thức để tiết kiệm tài nguyên tần số trong bối cảnh công nghiệp 4.0. Cụ thể hơn, mạng vô tuyến nhận thức dành cho lớp học sẽ bao gồm mạng sơ cấp dùng để trình chiếu bài giảng và mạng thứ cấp dùng để truyền thông tin lời giảng từ người dạy tới người học. Ở mạng sơ cấp, thiết bị máy tính của người dạy (presenter laptop (PL)) sử dụng mạng không dây để truyền thông tin đến màn hình trình chiếu (presenter screen (PS)) trên một tần số riêng. Tại mạng thứ cấp, thiết bị thu âm của người dạy (presenter microphone (PM)) có thể sử dụng tần số của mạng sơ cấp để truyền thông tin đến thiết bị phiên dịch được hỗ trợ từ dịch vụ đám mây (cloud translator (CT)) nhằm phục vụ cho phòng học đa ngôn ngữ. Sau đó, PM sẽ chuyển tiếp thông tin đã được phiên dịch đến thiết bị nghe của người học (student headphone (SH)) theo ngôn ngữ tương ứng. Theo đó, chúng tôi đưa ra công thức dạng tường minh để đánh giá hiệu năng của hệ thống thông qua thông số thông lượng. Kết quả chỉ ra rằng, do nhiễu lẫn nhau từ hai mạng sơ cấp và thứ cấp, PM và CT phải sử dụng công suất phát dưới ngưỡng cho trước để hệ thống có thể đạt được truyền thông hiệu quả.
Hiện nay dạng khuyết tật vận động chi dưới chiếm số lượng cao nhất trong điều tra tổng số người khuyết tật tại Việt Nam. Mất đi chi dưới sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc di chuyển và khả năng lao động của họ. Đa phần những người khuyết tật chi dưới chọn sử dụng chân giả kiểu thông thường có tính linh động thấp, tạo ra dáng đi không tự nhiên. Còn chân giả kiểu chủ động được nhập từ nước ngoài nên có giá thành cao: một chân giả trên gối của hãng Ottobock có giá thành từ 35 đến 320 triệu đồng, hay chi phí lắp đặt một chân giả trên gối tại Vulcan Augmetics dao động trung bình từ 25 đến 45 triệu đồng. Xuất phát từ đó, nhóm nghiên cứu mong muốn chế tạo một kiểu chân giả chủ động có giá thành thấp, phù hợp thể trạng người khuyết tật tại Việt Nam. Nhóm nghiên cứu đã phát triển được kiểu chân giả chủ động trên gối cho người khuyết tật với giá thành thấp (10 triệu đồng cho một chân giả). Chân có thể điều chỉnh được độ dài để đáp ứng sự phát triển của cơ thể, cho phép người khuyết tật sử dụng được trong thời gian dài hơn. Đầu gối có lắp cơ cấu giảm chấn thủy lực giúp gập duỗi gối được tự nhiên. Bàn chân được thiết kế hướng đến tính đơn giản nhưng có độ đàn hồi cao giúp cho việc tiếp đất êm ái và bước đi nhịp nhàng.
In this paper, the implementation of the PZT interface technique for monitoring strand breakage in a prestressed concrete anchorage zone is presented. First, the fundamental of the PZT interface for impedance monitoring is briefly reviewed. Second, a FE (finite element) analysis of a multi strand concrete anchorage equipped with an array of PZT interfaces is analyzed to obtain impedance signatures under a series of strand breakage events. Last, variations in impedance responses of the PZT array are quantified using root-mean-square-deviation (RMSD), and the linear tomography analysis of impedance’s RMSD indices is utilized to localize damage strands. The result reveals that locations of single and double outer damaged strands are successfully identified, but the location of a center damage strand is not clearly determined in multiple damage cases.