Bài nghiên cứu khái quát lý luận chung và phát triển kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi, một số mô hình kinh tế tuần hoàn trong chăn nuôi và một số định lượng giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong chăn muối ở Việt Nam.
Hiện nay, với sự đe doạ của hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu, việc chuyển đổi từ năng lượng hoá thạch sang sử dụng năng lượng tái tạo xanh sạch là tất yếu và vô cùng cấp bách. Tuy nhiên, việc chuyển mô hình năng lượng cần đến công nghệ hiện đại và nguồn tài chính lớn. Do đó, chuyển đổi năng lượng không phải là vấn đề có thể giải quyết trong ngắn hạn mà cần có lộ trình, bước đi thích hợp, cụ thể phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và tiềm năng của từng quốc gia. Vì vậy, đối với Việt Nam, việc nghiên cứu quá trình thực hiện của các quốc gia đã thành công trong chuyển đổi mô hình năng lượng để tìm ra những bài kinh nghiệm và bước đi thích hợp là rất cần thiết.
Bài viết bàn về quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam và kinh nghiệm một số nước trên thế giới về quá trình hội tụ kế toán quốc tế như Hoa Kỳ, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á.
Dịch vụ kế toán, kiểm toán tại Việt Nam trong những năm gần đây đã có những bước phát triển mạnh mẽ và có sự đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế đất nước. Trong bối cảnh mới hiện nay với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số, dịch vụ kế toán, kiểm toán có nhiều cơ hội để phát triển. Tuy nhiên bên cạnh đó, bối cảnh mới cũng đặt cho dịch vụ này không ít khó khăn, thách thức. Qua những phân tích về tình hình thực tế hiện nay, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ kế toán, kiểm toán trong bối cảnh mới.
Đối với các DN, muốn tăng cường khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập quốc tế để tồn tại và phát triển, nhất thiết phải biết tận dụng các thành tựu của khoa học kĩ thuật và trước hết là thành tựu của CNTT trong quản lí và sản xuất. Trong các hệ thống nói chung và các DN nói riêng, việc ứng dụng CNTT thường được bắt đầu từ khâu quản lí và quan trọng nhất là quản lí tài chính dựa trên các thông tin được cung cấp bởi hệ HTTT KT. Muốn vậy, DN cần được trang bị một cách hệ thống và đầy đủ những nhận thức về việc tổ chức HTTT KT trong điều kiện ứng dụng CNTT. Tuy vậy, Đối với các DN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay, việc tổ chức HTTT KT trong điều kiện ứng dụng CNTT còn tùy tiện, ngẫu hứng do nhận thức chưa đầy đủ về tổ chức HTTT và CNTT.
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) ở nước ta hiện nay đã hơn 20 năm chính thức đi vào cuộc sống (có hiệu lực từ ngày 01/01/1999) thay thế cho thuế doanh thu trước đây; Cùng với việc ban hành và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, chế độ kế toán thuế sao cho phù hợp với cơ chế thị trường và điều kiện sản xuất kinh doanh nhằm tăng thu cho NSNN (Ngân sách Nhà nước). Tuy nhiên, công tác hạch toán và quản lý thuế nói chung, đặc biệt là công tác hạch toán và quản lý thuế GTGT cho đến nay vẫn gặp không ít khó khăn và bờ ngờ đối với cả đối tượng nộp thuế và cơ quan thuế.
Bài viết sử dụng phương pháp thu thập, tổng hợp các nghiên cứu có chỉ số trích dẫn cao, thông tin cập nhật gần nhất trên các dữ liệu đáng tin cậy như ScienceDirect, Google Scholar kết hợp với phương pháp đối chiếu, so sánh để đúc kết và đưa ra các đề xuất mang tính gợi mở hướng đến giải pháp hiệu quả cho việc ứng dụng đặc tính hợp đồng thông minh của Blockchain trong hoạt động kiểm toán nội bộ tại Việt Nam.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của dân trí tài chính đến quản lí nợ của lao động phổ thông tại Việt Nam. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp người lao động phổ thông trong các khu công nghiệp, sau đó xử lí dữ liệu bằng phần mềm SPSS22 và AMOS20. Kết quả của mô hình cho thấy: Đối với các nhân tố cấu thành dân trí tài chính, thái độ tài chính và kiến thức tài chính có ảnh hưởng thuận chiều đến hành vi quản lí nợ, đồng thời chưa tìm được những tác động của hành vi tài chính. Với các biến nhân khẩu học, thu nhập và giới tính có tác động, nhưng bác bỏ giả thuyết về sự tác động của tuổi tác đến quản lí nợ của người lao động phổ thông Việt Nam. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lí cũng như các tổ chức tín dụng.
Dựa trên dữ liệu theo quý giai đoạn 2006 - 2021, kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen chỉ ra mối đồng liên kết trong mô hình nghiên cứu. Ước lượng Mô hình véc - tơ hiệu chỉnh sai số hồi quy (Vector Error Correction Model - VECM) cho thấy, tác động tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế và CAP trong dài hạn không có ý nghĩa thống kê, trong khi FDI tác động tiêu cực đến xuất nhập khẩu có ý nghĩa thống kê trong dài hạn. Kiểm định nhân quả Granger cho thấy, FDI tác động tích cực đến các biến trung gian bao gồm CAP và EX trong ngắn hạn. Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, bên cạnh một số tác động mà đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại cho nền kinh tế như thúc đẩy xuất khẩu, tạo việc làm, tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế còn tồn tại một số hạn chế do hoạt động khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài chưa thực sự hiệu quả. Từ kết quả nghiên cứu, các kiến nghị về chính sách và giải pháp được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng là các lĩnh vực khác biệt nhưng có nhiều hoạt động có phụ thuộc nhau cao. Khoa học là một hệ thống tri thức liên quan đến thế giới vật chất, tự nhiên và các hiện tượng nó, hoạt động để phát hiện bản chất chung của các quy luật tự nhiên cơ bản. Sản xuất tri thức khoa hỏi phải quan sát không thiên vị và thử nghiệm có hệ thống bằng phương pháp khoa học.